Nghĩ ở nghĩa trang Thanh Tước
Nhìn đội ngũ những ngôi mộ khang trang, mạch lạc nằm đều tăm tắp trên vùng đồi nhấp nhô, tôi chợt nhớ lại những câu thơ mà một bậc đàn anh đã viết khi mới bắt đầu đời lính, trước ngôi mộ lạ của người đồng đội lớp trước vừa được tìm thấy giữa rừng:
"Có ngày mẹ tìm thấy anh,
Gạt tro quên lãng phủ quanh nấm mồ.
Rừng đông buốt khói nhang mờ,
Riêng dòng lệ tự bao giờ nóng nguyên...
Anh thương mẹ quá đau phiền,
Anh thương tay mẹ cóng trên thân mình.
Nằm sâu dưới mộ sao đành,
Âm thầm anh nhú lên thành cỏ xuân..."
Trong rừng hay trên đồng quê mới có cỏ xuân, còn ở Thanh Tước bây giờ khó ai có thể tổ chức Hội Đạp thanh - khu vực này đã được bê tông hóa kỹ càng lắm nên khó mà tìm ra những bãi "cỏ non xanh tận chân trời" (Nguyễn Du).
Và ở Thanh Tước hôm nay, khác với thời "Nguyễn Du viết Truyện Kiều đất nước hoá thành thơ" (Chế Lan Viên), không có cảnh "gần xa nô nức yến anh", không có cảnh "Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước, áo quần như nêm, Ngổn ngang gò đống kéo lên, Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay..." (Nguyễn Du).
Đã đành, thời thế đổi khác rồi, nhưng thú thực là tôi cũng không nghĩ rằng ngày Thanh minh năm nay ở đây lại tĩnh lặng đến vậy - cả khu nghĩa trang mênh mông và trập trùng chỉ thấp thoáng những bóng người đi tảo mộ. Không tràn ngập mùi hương, không ồn ào tiếng nói... Thế nhưng, nếu ta có người thân nằm ở đây, lòng ta thể nào cũng nhói lên những nỗi niềm thương cảm mà khó ở đâu khác ta có được.
Và cũng ở trên Thanh Tước, ngoài người thân thiết, ta còn có thể đọc trên những mộ chí những tên họ mà chắc chắn là tất cả chúng ta từng yêu quý hay ngưỡng vọng. Thanh Tước là nơi an nghỉ của không chỉ những cán bộ trung cao cấp mà còn của nhiều Nghệ sĩ Nhân dân, Nhà giáo Nhân dân, nhiều Thầy thuốc Nhân dân, nhiều Anh hùng Lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân...
Có lẽ vì thế nên ở Thanh Tước tuyệt đại bộ phận đều là những ngôi mộ đẹp. Một khi ta đã để lại ân nghĩa và tình yêu ở lại sau ta, lớp hậu sinh không bao giờ lại hờ hững hay thiếu kính trọng ta cả.
Tôi đã thấy trên không ít những ngôi mộ ở Thanh Tước những biểu hiện nhỡn tiền của tình yêu và lòng kính trọng như thế. Đến ngôi mộ của cố NSND Lê Dung (số thứ tự 33), tôi đã thấy những bông loa kèn trắng muốt còn tươi nguyên đang bâng khuâng ngơ ngẩn với vòng nắng gần trưa, trong khói hương ngào ngạt - dường như ai đó vừa tới đây dâng hoa cho chị.
Những phiến đá bao bọc mộ còn thơm mùi rượu, như thể vừa được tắm rửa khỏi bụi bặm trần ai bằng tinh cốt của "hạt gạo làng ta, có vị phù sa..." (Trần Đăng Khoa). Tôi lại nhớ tới những câu mà một nhà thơ đã viết tặng chị:
"Men theo phía bên kia ánh sáng
anh thấy em đi giữa cánh đồng hoa
mắt em nhìn ấm và trong như nắng
tiếng em cười gió quyến ngân nga
cháy ngăn ngắt dưới chân em là cỏ
trời cao thấp thoáng trải mây vàng
em bối rối giữa ngàn làn hương lạ
bước ngập ngừng nhưng rất âm vang
như sống lại thời chưa tính tuổi
mơ tình yêu với tiếng hát song hành
cho tới phút cuối cùng em vẫn hỏi
thế nào sao không phải là anh
giờ đã muộn như một đời lỗi nhịp
như câu thơ với nhạc lạc hồn nhau
men theo phía bên kia ánh sáng
giống thiên đàng sao anh thấy mà đau???"
Phải chấp nhận số phận thôi, miễn là sự tử tế, miễn là những ký ức đẹp còn lại. Và Lễ Thanh minh là dịp để ta sống lại những ký ức đẹp đã khuất. Những người quản trang ở Thanh Tước nói với tôi rằng, những năm gần đây, dân ta coi Lễ Thanh minh là cả mùa xuân ("Mùa xuân là cả một mùa xanh... Cỏ nằm trên mộ đợi Thanh minh..." - Nguyễn Bính) nên năm nay đã không chỉ tới đây vào đúng ngày 18 tháng Hai âm lịch Đinh Hợi.
Hiểu điều này, nhưng vì sao đấy tôi vẫn cảm thấy bùi ngùi khi trên Thanh Tước trong ngày Thanh minh năm nay, không phải trên ngôi mộ nào cũng ngào ngạt khói hương và tươi sắc hoa loa kèn như trên mộ cố NSND Lê Dung...