Người trở về với ngọn nguồn văn hóa dân tộc
Theo con ngõ sâu hút của làng Đại Từ, quận Hoàng Mai, Hà Nội, chúng tôi tìm đến thăm ông. Không khỏi ngỡ ngàng vì không gian truyền thống Hà Nội được gìn giữ đậm đặc ở đây. Chiếc cổng có tuổi đời hơn 1 thế kỷ, đắp nổi chữ “Đường Viên” (khu vườn anh em ruột thịt đoàn kết) bằng Hán tự, với những hàng cây xanh mát mắt chạy dọc lối vào.
Cả gia đình 8 người con của nhà Hà Nội học Vũ Tuân Sán quây quần, giữa những mảnh vườn nhỏ trồng lan, mai, quất, thể hiện rất rõ tinh thần “đường viên” mà cha ông gửi gắm. Trung tâm khu đất là “Hoa đình tĩnh tâm trai” –nơi ông thường đọc sách, đàm đạo với bạn bè và là nơi họp mặt đại gia đình mỗi lúc giao thừa, để chúc tết nhau và cùng điểm lại những dấu ấn trong năm qua. Giữa bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ hôm nay, văn hóa truyền thống vẫn rất đậm nét ở gia đình ông, cho thấy sự nâng niu, trân trọng đầy ý thức.
Dấu ấn thời gian in hằn trên dáng vẻ của nhà nghiên cứu, nhưng trên gương mặt hiền từ vẫn toát lên sự nho nhã, thanh lịch của bậc trí giả. Ở tuổi 100, ông vẫn khá minh mẫn. Ngày ngày ông vẫn chăm chỉ đọc sách, nghiên cứu, viết những bài khảo cứu có giá trị cho xã hội, như con ong lặng thầm hút mật cho đời. Trên bàn làm việc của ông bên khu vườn nhỏ, nơi có những cây mai trắng lấp ló ngó bên cửa sổ -loài hoa ông yêu thích, luôn có chiếc kính lúp và đèn pin, để ông soi mỗi khi gặp những chữ viết quá nhỏ.
![]() |
| Nhà nghiên cứu Vũ Tuân Sán nhận Giải thưởng lớn “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội”. |
Giá sách trong phòng có đủ loại: chữ Hán, Nôm, Pháp, gọn gàng, sạch sẽ, chứng tỏ chủ nhân vẫn thường xuyên sử dụng. Chợt nhớ lời nhận xét của nhà thơ Bằng Việt, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Hà Nội: “Năm nay 100 tuổi, cụ như ánh vàng son còn lại của một thế hệ kết hợp được trong mình cả phần tinh túy của văn hóa phương Đông và phương Tây.”
Vũ Tuân Sán là một tên tuổi lớn trong giới nghiên cứu về Hà Nội, cho dù, ông luôn khiêm nhường và âm thầm cống hiến. Mừng thọ ông, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang dành những lời trân trọng: “Là cử nhân Tây học, nhưng Cụ say sưa, kiên trì, đi về với ngọn nguồn văn hóa dân tộc, trở thành một trong những nhà Hán Nôm học - Hà Nội học kỳ cựu, có nhiều đóng góp bằng các tác phẩm nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật có giá trị. Cụ đã nêu một tấm gương sáng trong việc cổ vũ thế hệ trẻ kế thừa khí phách và những giá trị văn hóa tốt đẹp của ông cha ta”.
2. Sinh năm 1915 tại Hà Nội, trong một gia đình sáu đời dạy học, Vũ Tuân Sán theo học luật ở trường Tây. Nhưng rồi như ông bảo, do truyền thống và ý thức, ông học cả về cổ học và “do cái duyên”, ông lại làm công việc bảo tồn văn hóa ở Sở Văn hóa Hà Nội. Với phông kiến thức sâu rộng, lại tinh thông cả tiếng Hán, tiếng Nôm lẫn tiếng Pháp, ông đã đi đầu trong nhiều công trình nghiên cứu biên khảo, báo cáo khoa học về Thăng Long - Hà Nội. Đặc biệt, với tâm huyết của ông, nhiều vấn đề quan trọng về địa lý- văn hóa Hà Nội đã được làm rõ và chỉnh sửa. Ông còn được biết đến là một dịch giả thơ Hán Nôm nổi tiếng với bút danh Tảo Trang.
Ông kể, công tác bảo tồn bảo tàng rất vất vả, nhưng ông lại đam mê và luôn ý thức rằng, giữ gìn truyền thống của Hà Nội là vấn đề quan trọng. Ông thường đạp xe điền giã khắp nơi, tìm hiểu và thu thập những tư liệu, hiện vật có giá trị về lịch sử, văn hóa của Hà Nội. Bất chấp trời nắng hè gay gắt, hay mưa rét dầm dề, ông vẫn có mặt ở từng di sản văn hóa.
Chị Vũ Thị Thanh, con gái của ông, nhớ lại: Ngày đó ba tôi thường xuyên vắng nhà, luôn mang theo chiếc túi dết, trong đó có đủ kim, chỉ, dao, kéo nhỏ để khi cần giữa đường có cái dùng. Chả mấy khi ba ở nhà, nhưng mẹ tôi vẫn luôn động viên, ủng hộ ba tôi làm tốt công việc.
Khi Ðông Anh, lúc Gia Lâm, rồi Thanh Trì, tìm hiểu lịch sử, văn hóa qua các tài liệu, hiện vật, những câu chuyện mà người lớn tuổi kể lại. Với vốn tiếng Hán uyên thâm, ông được thỏa sức nghiên cứu trong vô vàn tài liệu gần như chưa được khai thác ở mảnh đất cả ngàn năm văn hóa nên giàu tiềm năng về lịch sử và văn hóa. Nhờ đó, nhiều tư liệu, di sản quý được ông kịp thời phát hiện và nghiên cứu, để lưu giữ trước sự tàn phá của thời gian, thiên nhiên lẫn ý thức con người.
Với nghiên cứu của mình, ông đã lý giải về truyền thuyết 13 Trại (ven sông Tô Lịch) là dấu tích của việc nhà vua cho phép dân làng Lệ Mật (Gia Lâm) sang khai phá, làm ăn và tháng 3 hàng năm, dân 13 Trại lại lập đoàn về quê tổ chức lễ hội. Cũng chính các nghiên cứu của ông đã chỉ ra lâu nay, việc cho rằng núi Sưa chính là núi Nùng, là sự nhầm lẫn.
Từ năm 1970, ông đã cùng các nhà nghiên cứu Chu Hà, Phạm Hòa sưu tầm và biên soạn cuốn “Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội”, cùng giáo sư Bùi Văn Nguyên viết “Truyền thuyết ven Hồ Tây”... Ông cũng là người sáng lập và góp phần không nhỏ phát triển Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội. Đặc biệt, cuốn “Hà Nội xưa và nay” dày gần 1.000 trang của ông là một công trình lớn về Hà Nội, được giới chuyên ngành đánh giá cao về tính công phu, khoa học, thể hiện sự tìm tòi, khám phá về Hà Nội xưa.
Từ các tư liệu mà ông dày công thu thập được trong vài chục năm, ông khẳng định Hoàng cung thời Lý-Trần nằm đúng vị trí mà phát lộ khảo cổ học gần đây tìm ra. Đánh giá về công trình này, GS.TS Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học nhấn mạnh: “Đây là một tập sách khảo cứu Hà Nội của một nhà văn hóa bậc thầy; của một tâm hồn yêu Hà Nội, yêu đất nước thiết tha, nồng cháy và chung thủy”.
Ở tuổi 100, ông vẫn miệt mài nghiên cứu, làm khoa học. Mới đây, có bài viết về 4 chữ Hán trên cổng đền Hùng gây tranh cãi, tạp chí đăng bài đã cậy nhờ ông. Để có bài đính chính chỉ hơn 800 chữ, ông đã dành cả tháng trời đọc tài liệu, khảo cứu công phu, đủ thấy được lao động nghiêm cẩn của nhà trí thức lớn
