Nhà báo viết văn
Những cây bút "hai trong một"
Trong sự phân định về nghề nghiệp xã hội, nghề viết báo và nghề viết văn là hai nghề khác nhau. Nghề báo là phản ảnh, cập nhật cuộc sống bằng thông tin. Yêu cầu lớn nhất mà cũng là mục tiêu của nghề này là tính trung thực của sự phản ánh. Nghề văn thì phản ảnh thông qua góc nhìn, tầm suy nghĩ và tài năng của nhà văn. Tính khái quát xã hội và sự sáng tạo nghệ thuật được xem là mục đích vươn tới của mỗi nhà văn. Song với đặc trưng cùng lấy ngôn ngữ làm phương tiện để tạo ra tác phẩm của mình cũng như dấu ấn về cá nhân đã làm cho hai nghề này có những điểm gần nhau. Vì vậy Không phải ngẫu nhiên hai nghề này kể từ khi có nền tân văn báo chí ra đời trở thành hai nghề có mối quan hệ huyết thống, không lẫn vào nhau, đôi khi có những điểm trùng khớp, giao diện. Không ít cây bút liền một lúc đảm trách cả hai nghề này theo kiểu "hai trong một" mà nghề nọ không những không thôn tính mà còn hỗ trợ nhau để cho ra những tác phẩm đầy tính thuyết phục làm say mê người đọc.
Hiện tượng nhà báo viết văn không mới và không chỉ ở nước ta.
Trên thế giới ngay từ Đại chiến thế giới lần thứ nhất đã xuất hiện không ít các nhà văn trưởng thành từ phóng viên mặt trận. Trong đó tiêu biểu có Giôn Jít của Mỹ với tập kí "Mười ngày rung chuyển thế giới" viết về sự kiện Cách mạng tháng Mười, rồi lần lượt kế tiếp là Ilya Êren- bua một phóng viên chiến tranh thứ thiệt sau trở thành nhà văn kiệt xuất của Liên Xô mà tiểu thuyết danh tiếng của ông là "Cơn bão táp" vẫn in rõ văn phong của một nhà báo. Công xtăng Xi-mô-nốp nếu không là đồng nghiệp với Ê -ren-bua thì chưa chắc đã thành nhà thơ nổi tiếng với kiệt tác thơ "Đợi anh về".. Ở Đức nhà văn Rêmác với tiểu thuyết lừng lẫy "Phía Tây không có gì lạ" cũng từng là phóng viên chiến trận, còn ở Mỹ, văn hào Hêminhwêi có "Giã từ vũ khí", "Chuông nguỵên hồn ai" cũng là những tiểu thuyết lấy thực tế, tư liệu từ những sự kiện trong chiến tranh khi tác giả là phóng viên tham gia mặt trận ở chiến trường Tây Ban Nha…
Ở nước ta ngay từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX khi nền báo chí tân văn ra đời do sự du nhập của văn minh Tây phương chủ yếu là Pháp thì số lượng nhà báo viết văn càng nhiều với các đại diện xuất sắc như nhà thơ Tản Đà với việc làm báo Phong hóa, Ngô Tất Tố bên cạnh tiểu thuyết "Tắt đèn" tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện thực phê phán giai đoạn 1930-1945 có phóng sự "Cái đình", Vũ Trọng Phụng thì gần như cùng một lúc viết hàng loạt tiểu thuyết để đời như "Giông tố", "Số đỏ"... là hàng loạt phóng sự "Cơm thầy cơm cô", "Lục xì"…
Hiện nay, nhà báo viết văn dường như lại càng có đất phát triển. Trừ một số nhà báo chuyên tâm với các thể loại báo chí thì dường như ở tòa báo in, báo nói, báo hình nào cũng có các nhà báo viết văn. Chỉ xin đơn cử một số tên tuổi điển hình như nhà văn, kịch tác gia (vừa nhận Giải Nhà nước) Hà Đình Cẩn, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu… vốn là phóng viên của Báo Quân đội. Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn, nhà văn Trần Chiến phóng viên Báo Hànộimới. Ở Báo Công an nhân dân có số lượng vượt trội những nhà văn làm báo như nhà văn Ngôn Vĩnh, nhà văn Hữu Ước, nhà thơ Hồng Thanh Quang, nhà thơ Lưu Vinh, phê bình gia Đinh Quang Tốn, nhà văn Hồng Thái, nhà thơ Phạm Khải, nhà văn Như Bình… Báo Nhân dân có Thuận Hữu, Nguyễn Sĩ Đại, Lê Quang Trang… Báo Lao động có nhà văn Xuân Cang, cố nhà thơ Bùi Việt Phong, nhà văn Đỗ Quang Hạnh… Đài TNVN cũng có hẳn một chi hội nhà văn đã từng và đang làm chức phận của phóng viên như nhà văn Hoàng Ngọc Anh, nhà thơ Trúc Thông, nhà văn Tuấn Vinh, nhà văn Bùi Bình Thi... và kẻ viết bài này đã rong ruổi gần trọn 40 năm viết bài cho tuyên truyền kinh tế…
Cái lãi của sự làm báo hay việc lấy ngắn nuôi dài
Có thể khẳng định một thực tế rất rõ là: Do đặc trưng của xã hội ta nên những bước đi khởi thủy trong nghề cầm bút của hầu hết các nhà văn tương lai đều làm báo. Ở thế hệ những cây bút có độ tuổi trên dưới sáu mươi đều có sự thuận lợi cho nghề cầm bút viết văn sau này là đa phần đều tốt nghiệp từ Khoa văn các trường đại học hoặc Tổng hợp, hoặc Sư phạm. Dạo đó, các trường dạy viết báo chưa quy củ và hệ thống như hiện nay. Được đào tạo khá quy chuẩn về các kiến thức văn chương nên không ít người học văn rất ngỡ ngàng khi làm báo. Tôi còn nhớ kết quả chuyến đi công tác đầu tiên sau khi chân ướt chân ráo về tổ công nhân (tiền thân của Phòng Công nghiệp sau này) của Đài TNVN về tuyến đường sắt phía Nam. Sau 15 ngày trở về tôi đã viết bút ký dài "Khúc tráng ca đoạn đường sắt phía Nam" với câu mở đầu đầy văn chương "Tôi rời Hà nội khi cây hoa phượng đã cháy lửa nơi góc trời". Tổ trưởng tổ công nhân sau này là nhà văn Hoàng Ngọc Anh (tác giả tiểu thuyết "Xóm thợ Trường thi") đã cầm bút chấm mực xóa sạch gần mười trang bài ký đó. Ông giảng giải "phóng sự báo khác hẳn bút ký văn học". Sau này, khi tôi đã thành thạo các thể loại báo chí thì lại hình thành một suy nghĩ thực tế là các bài báo chỉ mới phản ánh được những sự kiện thời sự, cập nhật nhưng trong sự va chạm với thực tế người làm báo còn tiếp xúc với rất nhiều số phận con người với những câu chuyện mang đầy sự hấp dẫn về những mối quan hệ giữa con ngưòi, giữa cuộc sống.
Nhà báo - nhà văn Nguyễn Hồng Thái khi trao đổi với tôi về thực trạng này đã khẳng định "chính sự phong phú của thực tế xã hội "đã là chất xúc tác mạnh mẽ cho sự chuyển đổi hay nói cách khác là hình thành tố chất nhà văn trong nhà báo". Nói cách khác là sự tiếc nuối tư liệu về cuộc đời đã khiến nhà báo cầm bút viết văn. Khi đi theo tướng Đồng Sĩ Nguyên lên công trường làm đường bê tông ra biên giới Bắc Kạn vào những năm đầu của thập kỷ 80, tôi đã làm hai phóng sự, hai phỏng vấn thu thanh nhưng bảy năm sau vào năm 1987, tôi viết xong tiểu thuyết "Bụi đường" (năm 1990 đoạt Giải Nhất cuộc thi viết văn về đề tài GTVT)". Năm 1992, tôi có chuyến công tác trên biển cùng tàu Điện biên 01 của Công ty Vosco, tôi có bài phóng sự hai phần, vài mẩu chuyện "người tốt việc tốt" và gần chục năm sau vào năm 2000 tôi có tiểu thuyết "Biển toàn là nước" (năm 2010 được TLĐLĐVN tặng thưởng tác phẩm viết về giai cấp công nhân). Nhà văn Hà Đình Cẩn và nhà văn Bùi Đình Thi cũng vậy. Nếu không có những năm tháng hai ông lăn lộn trên chiến trường Lào cùng lực lượng Bộ đội tình nguyện Việt Nam để thu thập tin tức làm phóng sự, viết bài cho Báo Quân đội cho Đài TNVN thì làm sao Hà Đình Cẩn tiểu thuyết "Cây sa mu còn lại", nhà văn Bùi Bình Thi có "Xiêng khoảng mù xương"…
Có một dư luận cho rằng, hiện tượng nhà báo viết văn là một giải pháp cầm cự "lấy ngắn nuôi dài". Vẫn biết tình trạng nhuận bút cho các tác phẩm văn chương của ta hiện nay không mấy phù hợp, chưa thỏa đáng cho công lao sáng tạo nghệ thuật của nhà văn (đó là chưa kể việc cho ra đời các tập thơ lại trông chờ vào túi tiền cá nhân). Do sự cạnh tranh của nhiều loại hình thông tin, giải trí cộng thêm môi trường thương mại khiến tình trạng văn hóa đọc đang bị cạnh tranh khốc liệt. Vì vậy, một cuốn tiểu thuyết, một tập truyện ngắn chỉ in ra cao nhất 1.000 bản với số tiền nhuận bút không vượt ngưỡng chục triệu đồng thì để nuôi niềm say mê, sự sáng tạo văn chương các cây bút tìm đến việc viết báo…
Đó là một cách giải thích, nhưng cũng là một người đã từ lâu và trọn đời dành công sức và nỗi đam mê của mình cho nghiệp văn chương và báo chí, tôi thực sự tâm đắc với sự chia sẻ của một nhà văn ở Báo CAND. Cái lãi của người làm báo viết văn là với đặc trưng của nghề làm báo cây bút có thể thu lượm được rất nhiều thực tế phong phú và những số phận cuộc đời và nếu từ đó sáng tạo nên những tác phẩm văn chương đích thực thì đó chính là cái lãi tuyệt vời của nhà báo viết văn