Nhà văn Kyrgizia, Chingiz Aitmatov: Đời văn luôn dở dang
Không có điểm cuối
Nước Cộng hòa Kyrgizia dự định sẽ kỷ niệm ngày sinh lần thứ 80 của nhà văn vĩ đại Aitmatov vào tháng 12 tới (ông sinh ngày 12/12/1928). Năm 2008 được chính phủ Kyrgizia tôn vinh là "Năm của Aitmatov". Ông là tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như "Người thầy đầu tiên", "Con tàu trắng", "Cánh đồng mẹ", "Dzhamilia", "Cây phong non quàng khăn đỏ", "Đoạn đầu đài", "Và một ngày dài hơn thế kỷ"…
Ở thời perestroika, Aitmatov được cử làm đại sứ của Liên Xô ở một số nước Tây Âu. Sau khi Liên bang Xôviết tan vỡ, Aitmatov đã là đại sứ của nước Cộng hòa Kyrgizia ở một số nước thuộc Liên minh châu Âu.
Tháng 3/2008, do tình trạng sức khoẻ nên Aitmatov đã được ngừng công tác, không phải làm đại sứ Kyrgizia tại Pháp, Bỉ và Hà Lan nữa. Tháng 5 vừa qua, Aitmatov đã tới Kazan để tham gia một bộ phim tài liệu nhưng bất ngờ ngã bệnh nặng nên đã được đưa sang Đức để chạy chữa. Từ khi đó cho tới lúc qua đời, tình hình sức khoẻ của ông luôn luôn bị đánh giá là "bi quan"...
Aitmatov sinh ra tại làng Sheker trong một gia đình cán bộ Đảng. Cha ông năm 1938 đã bị sát hại và người mẹ, một nữ diễn viên ở nhà hát địa phương, người dân tộc Tatar, phải một mình làm lụng để nuôi 4 người con khôn lớn. Mới lên 10 tuổi, Aitmatov đã phải lao động giúp mẹ và năm 14 tuổi, nhà văn tương lai đã trở thành thư ký thôn: khi đó đang chiến tranh và tất cả những người đàn ông ở tuổi trưởng thành đều đi ra chiến trường hết.
Học xong lớp 8, năm 1948, Aitmatov thi vào Trường Trung cấp Thú y Dzhambul và tốt nghiệp xuất sắc trường này nên mặc nhiên được vào học đại học nông nghiệp mà không phải qua kỳ thi tuyển.
Bắt đầu từ năm 1952 trên báo chí đã xuất hiện những truyện ngắn của Aitmatov viết bằng tiếng Kyrgizia. Năm 1957, Aitmatov vào học ở lớp đào tạo cấp ở Trường Đại học Viết văn ở Moskva và sau một năm, đã có bằng tốt nghiệp rồi trở về làm biên tập viên tạp chí "Văn học Kyrgizstan", đồng thời kiêm luôn chân phóng viên thường trú của báo Pravda tại nước Cộng hòa Xôviết Kyrgizia (từ 1959 tới 1965).
Cũng từ năm 1958, Aitmatov bắt đầu được biết tới rộng rãi trên thế giới với truyện vừa "Dzhamilia". Khi đó, ông mới 30 tuổi. Từ đấy đến khi qua đời, các sáng tác của Aitmatov luôn luôn được đón nhận nồng nhiệt không chỉ ở Liên Xô trước đây mà ở rất nhiều nơi trên thế giới. Tại Việt Nam những bản dịch các cuốn sách của Aitmatov đã được coi như những biểu tượng của một thứ văn chương đích thực, mang đậm lý tưởng nhân văn, hướng thiện.
Theo số liệu của UNESCO, Aitmatov là một trong những nhà văn được in nhiều nhất thế giới thời hiện đại. Số lượng bản in các tác phẩm của ông đã hơn 67 triệu bản, in bằng 165 thứ tiếng. Tiểu thuyết cuối cùng của ông là "Khi núi sập" (Cô dâu vĩnh cửu) được xuất bản năm 2007.
Aitmatov từng được nhận giải thưởng Lênin (năm 1963), giải thưởng quốc gia Liên Xô (năm 1968, 1977, 1983), giải thưởng quốc gia Kyrgizia (năm 1976), cũng như giải thưởng Bông Sen, giải thưởng quốc tế Nehru, giải thưởng cành vô liu vàng, giải thưởng quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ... Cách đây không lâu, một tổ chức của các nhà văn hệ ngôn ngữ Thổ đã đề cử Aitmatov cho giải Nobel văn học năm nay. Tiếc thay, cái chết đã làm dang dở ý tưởng này vì theo thông lệ, giải Nobel chỉ được trao cho những người đang sống.
Nhà viết kịch vĩ đại người Ireland, Samuel Beckett từng nói, một nhà nghệ thuật chân chính không bao giờ hoàn thành được tác phẩm tuyệt vời nhất của mình. Chính Aitmatov trong một bài trả lời phỏng vấn cũng nói: "Mỗi một nhà văn đều bị định mệnh buộc phải không hoàn thành một việc gì đấy". Tác phẩm hay nhất của ông vẫn đang là dang dở.
Đắng lòng suy tưởng
Có lần, khi đã ở tuổi xưa nay hiếm, Aitmatov tâm sự về nghề: "Tôi vốn không phải người khó tính, không cần những điều kiện đặc biệt thì mới sáng tác được. Đơn giản là sáng ra dậy sớm hơn một chút, khoảng 5-6 giờ, khi điện thoại còn chưa réo, khi còn chưa có cuộc gặp gỡ đã lên kế hoạch trước nào diễn ra và ngồi vào bàn viết. Có lẽ tôi lạc hậu lắm so với thời cuộc rồi: cho tới bây giờ tôi vẫn không quen được với computer. Tôi luôn tự trách mình vì việc này. Tôi giờ vẫn viết bằng bút...".
Gần hai mươi năm cuối đời, Aitmatov phải dành thời gian chủ yếu cho những chức trách ngoại giao. Theo ông, đó không phải là một việc nhẹ nhàng: "Làm nhà ngoại giao có khó không? Khó lắm! Và tôi cũng không dám nói rằng tôi là một nhà ngoại giao kiệt xuất gì. Nhiều người nghĩ nghề ngoại giao phải là một công việc gì đó lắt léo lắm... Nhưng tôi không thế, tôi luôn luôn hành xử một cách thẳng thắn, công khai, trung thực và chân thành. Nếu người ta thấy không có dụng ý gì xấu, mà tất cả đều cởi mở thì tại sao người ta lại không tin? Tôi nghĩ rằng chính điều đó đã giúp tôi thiết lập được cả những mối quan hệ con người bình thường lẫn những tiếp xúc ngoại giao...
Còn về chuyện nghi thức thì trong những năm đầu tiên làm ngoại giao, đã có lúc tôi gặp những sự cố tức cười. Thí dụ, một lần, trong buổi tiếp tân, người ta mang ra một món ăn nào đó của Nhật Bản. Trên cái đĩa rất lớn có đặt rất đẹp một món ăn lạ lùng kèm theo cả hoa tươi. Lúc đó, tôi nghĩ rằng, một khi đã đưa ra bàn thì tức là có thể ăn được hết. Và tôi ăn cả hoa. Rồi sau tôi mới biết đoá hoa đó chỉ là để trang trí thôi. Tôi đã cười tự chế giễu mình rất lâu...".
Công việc của một đại sứ Kyrgizia ở Liên minh châu Âu đã gần như nuốt hết thời gian của Aitmatov. Vì thế, như ông đã có lần nói: "Rất nhiều dự kiến sáng tác vẫn chỉ ở giai đoạn mới bắt đầu và đấy chính là bi kịch lớn nhất đối với tôi. Các ý tưởng vẫn đang tồn tại rất sống động nhưng tôi lại không đủ thời gian để biến chúng thành hiện thực. Hình bóng các nhân vật ám ảnh, đeo bám trí óc, thậm chí đôi khi còn vây bủa tới nghẹt thở. Giá tôi có được thêm một kiếp nữa, hẳn tôi sẽ triển khai được phải biết...".
![]() |
| Nhà văn Chingiz Aitmatov với độc giả. |
Rất tôn trọng truyền thống, nhưng Aimatov không xa lạ với những cái mới trong cõi thế. Ông nói: "Khi có cái mới xuất hiện trong đời sống thì tôi không cảm thấy khó chịu, cũng không cảm thấy bàng quan. Sống đâu có thể chịu ngưng đọng lại một chỗ. Ngay cả khi gìn giữ và bảo tồn truyền thống, chúng ta cũng không thể thiếu những sự cách tân.
Trong văn hóa tất nhiên là cần thay đổi cái này, cái nọ, thu nhận những hình thức mới mẻ. Một số cái mới làm tôi kinh ngạc nhưng đó không phải là lý do để không chấp nhận hoàn toàn hay chối bỏ nó. Có lẽ đó phải là điều buộc ta phải ngạc nhiên và suy nghĩ: tại sao lại xuất hiện một xu hướng như thế, tại sao nó lại có nhiều người đi theo đến thế?..".
Aitmatov nhận xét về ảnh hưởng của tiến trình toàn cầu hoá tới văn hóa như sau: "Tiến trình toàn cầu hoá liên quan tới văn hóa không phải ở bậc cuối cùng đâu. Tiến trình đó là sự tự nhiên, liên quan tới sự phát triển nền kinh tế thị trường vốn có xu hướng quy chuẩn hoá mọi thứ, dồn tất cả vào theo một kiểu. Ủng hộ cho một nền kinh tế như thế là tất cả các kỹ nghệ và các phương tiện thông tin đại chúng.
Tôi cho rằng, nền văn hóa đại chúng càng hùng hậu thì càng cần phải chống lại nó mạnh mẽ hơn bằng cách sáng tạo ra những giá trị nghệ thuật độc đáo mới và bảo tồn những giá trị quý báu đã có...".
Là người con vĩ đại của Kyrgizia nên Aitmatov gắn bó rất sâu nặng với di sản văn hóa cổ xưa của dân tộc mình. Và ông biết tìm ra những tiếng vọng đồng điệu của truyền thống trong cuộc sống hôm nay.
Ông tâm sự: "Trong sáng tác của tôi gần như ở tác phẩm nào cũng có hướng tới các chủ đề thần thoại. Đó là nguồn chất liệu cực kỳ giàu có. Nhờ bà tôi mà các truyền thuyết, truyện cổ, các trường ca dân gian đã tác động rất mạnh mẽ tới tôi ngay từ thời thơ ấu. Bà tôi là một người cực kỳ đặc biệt, một nhà kể chuyện cổ tích vĩ đại. Thời ấy làm gì có truyền hình, đến đài phát thanh cũng chưa có. Có thể nói chính bà tôi là tivi của tôi”.
Còn nói về mối liên hệ với hiện thực... Trong tiểu thuyết "Đoạn đầu đài" của tôi có hình ảnh con sói cái Akbara. Một lần ở Moskva có một người phụ nữ lại gần tôi chào và khi tôi hỏi tên của chị thì chị nhìn thẳng vào mắt tôi và nói: "Tôi tên là Akbara!" rồi bỏ đi ngay. Trong cái nhìn ấy của chị ẩn chứa bao nhiêu trải nghiệm đớn đau khổ ải. Tôi kinh hãi nghĩ, chị ấy đã phải trải qua biết bao nhiêu đoạn trường mới tự cho rằng, trong bản thân mình không còn chút gì nhân tính nữa.
Hay trong tiểu thuyết "Và một ngày dài hơn thế kỷ", tôi đã kể lại một truyền thuyết cũ về người Mankurt. Đó thực ra cũng là một giai đoạn lịch sử có thật, khi người ta bị tra tấn bằng cách gọt đầu, rồi choàng lên đó một mảnh da lạc đà mới lột hay một cái dạ dày lạc đà; khi mảnh da hay cái dạ dày đó khô đi thì nó bó đầu người lại và bên trongå mọc lên tua tủa những cái lông mới. Những người bị tra tấn như thế dần dà mất trí nhớ và trở thành những nô lệ ngoan ngoãn.
Cứ ngỡ như chẳng có gì chung giữa thế giới hiện đại với truyền thuyết nghìn năm tuổi ấy. Thế mà trong giai đoạn perestroika, dân chúng đã mang ra đường biểu tình với những khẩu hiệu: "Đừng lừa chúng tôi, chúng tôi không phải Mankurt!" Bây giờ từ những thảo nguyên Kazakh xa thẳm truyền thuyết ấy đã đi tít mù khơi sang tận Mỹ: ở New York đã công diễn vở kịch với nhan đề "Tiếng khóc của người mẹ Mankurt"...".
Từng trải qua những năm tháng ấu thơ trong lửa đạn chiến tranh, Aitmatov vẫn không bị rắn lòng lại với những học thuyết chủ chiến. Lý tưởng nhân văn ở tâm hồn ông luôn là chủ đạo.
Ông nói: "Tôi cho rằng nền văn hóa hòa bình chắc chắn sẽ tới thay thế cho nền văn hoá chiến tranh. Từ nghìn xưa tới giờ luôn tụng ca các anh hùng chiến đấu, lòng dũng cảm và quyết liệt của họ - tất cả những cái đó được tiếp nhận như những phẩm giá hiển hách. Hãy nhìn xem, ở thủ đô nước nào cũng có những bức tượng các tướng quân cưỡi ngựa. Trong lúc đó những nhân vật không song hành cùng chiến tranh, mà với tư tưởng hòa bình thì lại không được đưa lên đài vinh quang.
Nhưng thực ra đã tới lúc chúng ta phải vượt lên trên mặc cảm không hoàn thiện đó, trước hết là thông qua văn học và nghệ thuật với cơ sở căn bản của chúng là chủ nghĩa nhân đạo... Thật tiếc là những chuẩn mực nhân văn hiện đang vấp phải cuộc khủng hoảng chung. Trong văn học cũng vậy.
Tôi đọc thấy có một nữ văn sĩ viết truyện trinh thám nào đấy đã nhận tiền ứng trước cho cuốn sách viết về kẻ sát nhân Jack những 9 triệu USD: hóa ra đấy là thứ ta cần trong thời buổi hiện nay! Giờ thì ngay cả các tôn giáo hiện đại cũng bay cao quá và hành xử một cách kiêu căng thái quá. Cuộc khủng hoảng nhận thức tôn giáo (tôi không nhấn mạnh tới một tôn giáo cụ thể nào) đã tới. Tôi hiểu ra điều này mới đây thôi, khi tại một làng ở Kyrgizia chết đi một người vốn theo đạo Hồi nhưng đã cải sang một tín ngưỡng khác. Ngăn chặn những bà con của người quá cố đang khiêng quan tài là cả một đám đông những tín đồ Hồi giáo địa phương tràn đầy giận dữ.
Thế là những người bà con ấy đã phải mang xác người thân đi chôn ở nơi xa cả trăm cây số. Nếu ngay ở trước cửa nghĩa địa mà chúng ta vẫn không thể nhường đường cho nhau thì còn nói gì được về cuộc sống?"
