Nhà văn Lê Văn Trương và kỷ lục viết nhiều sách

12:07 22/02/2009
Cho đến nay chưa ai xác định được chính xác số lượng tác phẩm mà nhà văn Lê Văn Trương đã viết. Một số nhà nghiên cứu cho rằng ông đã viết gần 200 tác phẩm. Theo bản thống kê của gia đình ông thì còn lưu giữ được 125 tác phẩm, 96 cuốn đã in và 29 cuốn chưa in.

Nhà văn Lê Văn Trương sinh năm Bính Ngọ, 1906 (cùng tuổi với nhà văn Hoàng Đạo, em nhà văn Nhất Linh, anh nhà văn Thạch Lam), ở làng Đồng Nhân nay là phố Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Cuộc đời và sự nghiệp viết văn của ông đến nay vẫn còn nhiều điều bí ẩn và tranh cãi của nhiều nhà nghiên cứu. Một điều được thừa nhận chắc chắn ở Lê Văn Trương, ông là nhà văn có số lượng tác phẩm nhiều nhất Việt Nam (đến nay chưa có người viết nào phá được kỷ lục này).

Ông nội và cụ thân sinh Lê Văn Trương có trang trại rất rộng ở Bắc Giang (nay là phố Nghĩa Long, thành phố Bắc Giang). Thuở nhỏ Lê Văn Trương học tiểu học ở Bắc Giang, năm 1921 theo bố về Hà Nội thi vào học tại trường Bưởi. Học Thành Chung tới năm thứ 3 thì bị đuổi học vì tham gia bãi khóa. Không học trường Bưởi nữa, Lê Văn Trương đi học thêm rồi thi đậu vào Sở Dây thép Đông Dương (Bưu điện Đông Dương) năm 1926.

Do có "vết" tham gia bãi khóa, ông bị điều đi làm việc ở Cao Miên (Campuchia), tại tỉnh Battambang. Cũng ở Battambang, Lê Văn Trương đã gặp và yêu cô nữ sinh trường Battambang Ngô Thị Hương, con một gia đình người Việt sinh sống tại đây. Họ nên duyên vợ chồng, bà Hương là con cả trong nhà. Chán nghề công chức, Lê Văn Trương bỏ đi khai khẩn đồn điền ở huyện Môngcoboray, tỉnh Lovea, giáp biên giới Thái Lan.

Trong cuộc đời, ông Lê Văn Trương chính thức có hai bà vợ. Bà cả - Ngô Thị Hương sinh với ông được năm người con. Ba người con trai đầu đều sinh ở Lovea; mỗi đận sinh ông đều điện về hỏi ý kiến bố, để bố đặt tên; đó là các ông Lân (Mạc Lân, con cả, sinh năm 1928), Liễn và Bổng. Hai người con sau được sinh ở Hà Nội, khi ông đã về Hà Nội làm báo, viết văn. Hai người này ông đều lấy tên nhân vật trong truyện của mình đặt tên con, đó là Lê Văn Linh và Lê Thị Giáng Vân (tên nhân vật chính trong tác phẩm "Cánh sen trong bùn").

Bà Ngô Thị Hương sinh trong một gia đình mở tiệm Cao Lâu ở Battambang, sau khi lấy ông Trương thì ở nhà lo gia đình và chăm sóc con cái. Ngoài tài nấu nướng bà còn là người phụ nữ rất giỏi nữ công gia chánh, khoảng những năm 1943-1945 bà từng mở lớp dạy nữ công. Bà Hương nết người thuần hậu, hiền thục; cả cuộc đời chỉ lo phục vụ chồng và nuôi con.

Bà hai là Nguyễn Thị Đào, kém ông gần hai chục tuổi, mới mất khoảng vào năm 2000. Bà Đào chỉ nhỉnh hơn con trai cả ông chừng bảy tám tuổi, xuất thân là cô gái nông thôn có nhan sắc, quê ở Lạc Quần, Nam Định. Bà Đào bị ép duyên ở quê, bỏ làng lên Hà Nội rồi bị sa chân đi làm gái nhảy, lấy một ông chồng làm đốc tờ thú y (bác sĩ thú y). Được một thời gian họ bỏ nhau.

Ông Trương gặp bà Đào khi ông đã rất nổi tiếng trong làng văn. Trai tài gái sắc gặp nhau, bất chấp sự chênh lệch tuổi tác khá lớn, bà theo ông Trương về làm vợ lẽ. Dù đã từng làm gái nhảy, tiếp xúc và quan hệ với giới trí thức, thượng lưu ăn chơi thời ấy, bà Đào vẫn giữ được tâm hồn, tính nết của một người phụ nữ nông thôn. Bà là người tốt tính, nhường nhịn và rất chung tình với ông Trương, mặc dù sau khi lấy bà ông còn có rất nhiều quan hệ với những người đàn bà khác.

Lấy bà Đào làm hai, ông Trương không ép buộc các con mình gọi bà là mẹ kế, cho phép xưng hô kiểu chị em. Nhưng bà Hương (bà cả) không đồng ý, bắt các con phải gọi là mẹ vì là vợ của bố. Điều đặc biệt, bà Hương và bà Đào sống với nhau rất hòa thuận, thân ái. Bà Đào khi lấy ông Trương không biết chữ, bà biết chữ là nhờ con trai cả ông Trương dạy. Cách dạy cũng rất đặc biệt, khác thói thường, thông qua học Truyện Kiều.

Từ trước tới nay, trong một số tài liệu đã công bố hoặc giai thoại hay sự đồn thổi để cắt nghĩa sức viết nhanh, khỏe của Lê Văn Trương; người ta cho rằng nhiều khi ông sáng tác bằng cách đọc cho hai bà vợ viết cùng lúc. Hoặc hơn thế nữa, có những sáng tác của ông do hai bà vợ viết, còn ông chỉ phác cho hai bà cái ý tưởng, cái cốt truyện... Những điều đó hoàn toàn không có thực, bởi lẽ: bà Hương dù đã qua học hành nhưng từ khi lấy ông Trương, mục đích cao nhất của đời bà là phụng sự chồng và nuôi con. Còn bà Đào thì "cái sự" biết chữ của bà cũng chưa chắc đã đủ cho bà dùng, nói gì đến viết sách.

Theo nguồn tư liệu của gia đình khẳng định, Lê Văn Trương thường viết văn ngay tại các xóm cô đầu (nhiều nhà văn nổi tiếng của nước ta giai đoạn 1930-1945 thường hay lui tới các xóm cô đầu), và ở trại viết riêng của ông ở xóm Ao Giảng thuộc vùng Láng (giờ là Láng Hạ, phía gần cầu Mọc). Trại viết này gần nhà của nhà văn Vũ Trọng Phụng ở làng Nhân Chính. Thỉnh thoảng ông mới viết tại nhà riêng. Có lần ông tâm sự với người trong gia đình, bút danh duy nhất ông dùng: Cô Lý, không phải là tên một người con gái cụ thể nào mà là sự cô đơn, cô liêu... với cái lý của mình... Ngày nay chúng ta gọi là quan điểm riêng.

Mỗi khi về viết tại nhà, Lê Văn Trương ngồi lì trong buồng riêng suốt ngày đêm. Người duy nhất được phép vào là bà Hương, bà vào để hầu việc ăn uống cho ông. Buồng viết riêng của ông gồm một bộ đivăng, một bàn viết, một tủ sách, ngoài ra không có thứ gì khác. Ông Trương ăn uống rất cầu kỳ và cũng hiếm có bà vợ nào cần mẫn, kỹ càng, chu đáo làm các món ăn cho ông như bà.

Theo người trong gia đình kể lại, sở dĩ ông về viết tại nhà là vì muốn được ăn các món do bà vợ làm mà ông đi hết các tiệm Cao Lâu không có được như ý. Ví dụ như món cháo gà, bà phải để cả con hầm nhỏ lửa cho thật nhừ rút xương ra. Ông Trương đặc biệt ưa thich món giò ốc nhồi. Để làm món này, bà Hương phải lặn lội xuống tận chợ Mơ chọn mua từng hàng, nhặt những con ốc béo, tươi mang về ngâm nước gạo đủ hai ngày hai đêm cho ốc nhả hết mọi tạp chất ra. Sau đó lau kỹ từng con bỏ vào chiếc chậu đồng sạch, bao nhiêu ốc thì đập bấy nhiêu trứng gà cho ốc ăn hết trứng gà rồi mới khêu lấy thịt ốc mang bó giò. Bà Hương kể, ông viết nhanh và khỏe lắm, có cuốn ông chỉ viết trong có ba ngày đã xong, gần hai trăm trang.

Người ta thường nói Lê Văn Trương là nhà văn mơ mộng, lãng mạn... Thực ra không phải thế. Một trong những nguyên nhân giúp bút lực ông dồi dào chính do ông có một vốn sống phong phú, sự từng trải từ chính cuộc đời sôi nổi, đầy nhiệt huyết của ông. Lê Văn Trương đã từng đi buôn trên địa bàn rất rộng của thời ấy: Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Singapore... Rồi ông làm thầu khoán, làm đồn điền, buôn bò, buôn ngọc... Ông là người biết võ, giỏi ném phi tiêu, thích phiêu lưu mạo hiểm.

Rất nhiều tiểu thuyết được ông viết ra mang trong đó một phần đời của ông. Chẳng hạn cuốn "Trận đời" viết về thất bại của ông khi mở đồn điền, cuốn "Trường đời" nói về việc thầu khoán, cuốn "Cánh sen trong bùn" viết về bà vợ hai - bà Đào, cuốn "Tôi là mẹ" viết về vợ cả - bà Hương... Đề tài trong tiểu thuyết của Lê Văn Trương rất đa dạng, theo Nguyễn Huệ Chi (Từ điển Văn học 1985): "Một là loại truyện phiêu lưu, ly kỳ của tầng lớp dân nghèo lang bạt như các cuốn "Cô Tư Thung", "Cánh sen trong bùn", "Trường đời", "Tôi thầu khoán", "Những đồng tiền xiết máu". Hai là loại truyện đề cao tình cảm gia đình với tấm gương mẫu mực của các bậc phụ huynh như: "Người anh cả", "Một người cha", "Người vợ lý tưởng", "Người vợ hoàn toàn", "Một đứa bé mồ côi", "Con đường hạnh phúc", "Đứa con hạnh phúc". Ba là loại truyện phê phán, đả kích thói hư tật xấu của tầng lớp thượng lưu như: "Trong ao tù trưởng giả", "Một lương tâm trong gió lốc", "Đứa cháu đồng bạc", "Một cô gái mới", "Chồng chúng ta"...".

Nói đến Lê Văn Trương, lứa thanh niên 17, 18 tuổi lúc bấy giờ vẫn nhớ và hâm mộ truyện của ông, bởi, ông đã xây dựng nên mẫu người anh hùng cá nhân giàu nhiệt huyết phù hợp với tinh thần, mong muốn tự lập tự cường của dân tộc ta thời ấy. Cho nên, có thể nói rằng Lê Văn Trương có công góp phần khích lệ tinh thần của lớp thanh niên đương thời. Tuy nhiên, khách quan nhìn nhận, như gia đình ông nhận xét: "Văn chương của ông dễ dãi cho nên ông viết rất nhiều nhưng tác phẩm đọng lại được quá ít".

Hay như đánh giá của nhóm biên soạn bộ sách "Tác gia văn học Thăng Long - Hà Nội": Truyện của Lê Văn Trương nói chung đều đề cao một loại mẫu người Anh hùng thời đại vừa oanh liệt phiêu lưu mạo hiểm vừa gương mẫu trong đời sống gia đình, vừa có lương tâm cao thượng, lại vừa tài năng. Những nhân vật của ông xây dựng thường giả tạo, gượng ép, cho nên dù tác giả muốn đề cao đạo đức nhưng thiếu sức thuyết phục, vì vậy giá trị nghệ thuật của tác phẩm bị giảm đi khá nhiều. Tác phẩm của Lê Văn Trương vào thời kỳ ấy tuy hấp dẫn được độc giả thị thành, nhưng không mấy tác phẩm đứng lại được với thời gian... Dù sao tác phẩm của Lê Văn Trương cũng đã góp phần làm phong phú nền văn học quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX.

Theo gia đình Lê Văn Trương kể lại, ông cho rằng con người ta sống ở trên đời phải tự lực tự cường... Quan điểm ấy in đậm dấu vết trong các tác phẩm của ông. Ông dậy con cũng vậy. Lê Văn Trương thường nói với các con phải tránh 3 điều: không ngậm dọc tẩu (hút thuốc phiện), không ăn cắp, không để ai đánh mình mà mình không đánh lại.

Câu chuyện sau kể về cách dạy con của ông. Một lần, con trai cả ông cùng gia đình về Bắc Giang (nơi bố ông đang ở) ăn Tết. Bố ông phong kiến và giữ nếp sống rất nghiêm cẩn; con gái, con dâu không có việc sai bảo cấm được lên nhà trên; sinh hoạt, ăn uống đều ở dưới nhà ngang. Nhà bóc bánh chưng (khi ấy xắt bánh chưng ở Bắc Giang không xắt lạt chéo như Hà Nội mà xắt lạt dọc ngang quân cờ), cậu bé anh họ con trai cả ông, chưa được phép định thò tay bốc ăn trước; con trai ông chộp tay ngăn lại, thế là hai cậu bé đánh nhau. Bố ông cầm roi xuống đánh bắt cháu phải chui vào cũi nhốt chó; vừa lúc ấy ông Trương đi về, hỏi, biết đầu đuôi câu chuyện, ông bảo con trai: "Mày làm đúng" và không cho con chui vào cũi chó. Bố ông tức lắm, hầm hầm cầm roi lên nhà…

Một lần khác, muốn cho con biết đi xe đạp, ông Trương mang về chiếc xe đạp rồi bảo con: "Tập đi, tuần sau phải biết đi". Mặc cho con muốn tập thế nào nhưng hết thời hạn phải biết đi xe đạp. Lại một lần ông mua vé bơi ở Ấu Trĩ Viên (công viên dành cho trẻ em) mang về bảo con: "15 ngày nữa phải biết bơi". Cách dạy của ông là như vậy, không ủy mị, dỗ dành mà đề ra mục đích phải hướng tới để con cái thực hiện theo cách của mình. Tiếc rằng ba điều ông thường răn dạy con thì chính ông lại phạm vào một điều, đó là ngậm dọc tẩu…

Sinh thời Lê Văn Trương sống khoáng đạt, quảng giao, bạn bè văn chương, ngoài văn chương rất đông. Theo gia đình kể lại trong số đó có ông Trần Huy Liệu và ông Đặng Kim Giang, Chủ tịch Khu II. Khi Cách mạng Tháng Tám giành được chính quyền, con trai cả ông vào bộ đội và sau đó tham gia đoàn quân Nam Tiến; bản thân ông Trương đến năm 1950 cũng vào bộ đội. Ông ở Tiểu ban Văn nghệ của Ban Tuyên huấn thuộc Phòng Chính trị Liên khu III.

Nhà văn Lê Văn Trương tham gia hai chiến dịch đánh Pháp ở Hòa Bình và Lê Xá (Nam Định). Sau chiến dịch, ông viết cuốn tiểu thuyết "Tôi là quân nhân". Đáng tiếc cuốn tiểu thuyết của ông lúc đó đã bị phê phán tơi bời, bị cho là đề cao chủ nghĩa anh hùng cá nhân.

Buồn chán vì thất bại khi chuyển hướng viết mới, bệnh gan của ông tái phát, ông tâm sự cùng con trai cả - Mạc Lân: "Thày phải vào thành vì bệnh tật nhưng thày không làm điều gì xấu". Sau đó ông đến Ủy ban Hành chính kháng chiến Liên khu III, lúc ấy đóng ở Xích Thổ, tỉnh Ninh Bình xin được giấy vào thành (Hà Nội). Vào thành, ông không mang theo người con nào (thời điểm ấy gia đình ông đang ở khu kháng chiến).

Đầu năm 1954, ông vào Sài Gòn làm thầu khoán, viết sách, viết báo, tái bản sách. Nhưng ở Sài Gòn sách của ông không có độc giả, công việc thầu khoán, đi buôn cũng suy sụp; ông bị vỡ nợ và sống trong nghèo túng đến năm 1963 thì mất.

Những chuyện trên tôi được biết qua những buổi trò chuyện cùng nhà văn Mạc Lân - con trai cả của nhà văn Lê Văn Trương. Nhà văn Mạc Lân từng là Chánh văn phòng của Hội Văn nghệ Hà Nội khi sáng lập, gia đình hiện ở khu tập thể Liên Cơ, quận Cầu Giấy, Hà Nội, ông Lân mất khoảng cuối năm 2004. Bên cạnh đó là nguồn tư liệu riêng của nhà văn Lê Bầu - bạn thân của con trai cả ông Lê Văn Trương và nhà văn Hoàng Quốc Hải

Cao Minh

Trong chương trình “Mãi mãi niềm tin theo Đảng” vào tối 16/1 – chương trình chính luận nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng, hướng tới Đại hội XIV của Đảng, ca sĩ Anh Tú tạo nhiều bất ngờ khi giới thiệu đến công chúng ca khúc mang tên “Thưa Đảng” do chính anh sáng tác.

Trước thềm trận bán kết Vòng chung kết U23 châu Á, cái tên U23 Trung Quốc mang đến nhiều suy ngẫm lẫn tò mò. Không hào nhoáng, không áp đảo về mặt thế trận, đội bóng trẻ đến từ Đông Á lại lặng lẽ tiến sâu bằng một con đường khác biệt: phòng ngự đến tận cùng và chắt chiu từng khoảnh khắc sinh tồn. Đó không phải là lối chơi hấp dẫn, nhưng lại là một bài toán thực sự hóc búa cho bất kỳ đối thủ nào, trong đó có U23 Việt Nam.

Giữa trùng khơi, trong nhịp sóng vỗ nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc, hơn 1.900 người dân cùng các lực lượng vũ trang trên đặc khu Thổ Châu (tỉnh An Giang) đang hân hoan, tin tưởng hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc mà còn mang theo bao mong muốn, kỳ vọng về một cuộc chuyển mình lịch sử cho Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình.

Thực hiện cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, Công an tỉnh Điện Biên vừa bắt 1 đối tượng, tang vật thu giữ 10 bánh ma túy.

Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu có những chuyển dịch phức tạp, Greenland giờ không chỉ là một hòn đảo tự trị băng giá xa xôi của Đan Mạch. Tổng thống Donald Trump gần đây thường xuyên khẳng định, Mỹ phải kiểm soát Greenland để chống lại mối đe dọa từ các đối thủ ở khu vực Bắc Cực. Đặc biệt, với sự xuất hiện của hệ thống Vòm Vàng và hệ thống vũ khí hiện đại, nhu cầu kiểm soát Greenland trở nên đặc biệt cấp thiết.

Trong không khí Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đã trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí trung ương và địa phương về tầm nhìn, mục tiêu và những định hướng lớn nhằm xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, giàu bản sắc; phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.

Những ngày gần đây, dư luận cả nước đặc biệt quan tâm đến thông tin báo chí phản ánh việc xuất hiện một ngôi nhà rường bằng gỗ dựng ngay trước cổng vào bửu thành của Lăng Hoàng thái hậu Từ Dụ, đồng thời một cổng gỗ dạng tam quan cũng được dựng ở khu vực phía ngoài Lăng vua Thiệu Trị. Cả hai công trình đều do Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế cho xây dựng, với lý do “phục vụ hương khói, nghi lễ” và được thực hiện từ nguồn xã hội hóa.

Với 88 ca ghép gan cho bệnh nhi, Bệnh viện Nhi Trung ương hiện là đơn vị có số ca ghép gan nhi nhiều nhất tại Việt Nam, trong đó có những ca đòi hỏi kỹ thuật khó. Sau mỗi ca ghép thành công là một tương lai được viết lại, một cuộc đời được hồi sinh từ lòng nhân ái của người hiến và gia đình, cùng sự tận tâm, nỗ lực của các y bác sĩ. Ca ghép thứ 88 được thực hiện cuối năm 2025 là dấu mốc quan trọng đánh dấu lần đầu tiên Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện thành công ca ghép gan từ người hiến chết não cho bệnh nhi 3 tuổi bị teo đường mật bẩm sinh.

Ngày 18/1, Ban Quản lý dự án Chương trình phát triển các đô thị loại II (thuộc Sở Tài chính TP Huế) cho biết, đã ban hành quyết định xử phạt Công ty Cổ phần 479 Hòa Bình với tổng số tiền hơn 1,5 tỷ đồng do vi phạm tiến độ hợp đồng tại gói thầu số 28 nâng cấp, mở rộng cầu Vỹ Dạ và xây dựng tuyến đường 100m nối khu đô thị A-B thuộc khu đô thị An Vân Dương.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文