Nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9: “Cô đơn” bên “tiếng dương cầm”
Tôi lên máy bay về Hà Nội, dường như váng vất đâu đó, trong tâm hồn tôi, là tiếng đàn dương cầm của ông. Ông đàn trong một buổi tối mùa thu Sài Gòn, nơi phòng trà nhỏ "Tiếng dương cầm", quán vắng khách nhưng lòng ông không vắng.
Có lẽ tôi không thực sự hiểu ông lắm. Ông sống một cuộc đời khác tôi, trải qua bao biến động. Và giờ nỗi buồn cũng ủ lại, cô đơn thấm hết vào từng lời ca, vươn lên như mầm cây, thánh thót như tiếng đàn.
Nên trong buổi sáng tôi ngồi cùng ông trong căn phòng khách nhỏ trên đường Thích Quảng Đức, nét mặt ông gần như thanh thản. Mọi sự khác thường đã ở ngoài ông.
Ông bảo, tôi biết ơn khán giả Hà Nội lắm, live show "Hội trùng dương", Ánh Tuyết mời tôi ra bằng được. Tôi đệm đàn cho Ánh Tuyết hát ở ATB mười mấy năm rồi tính chuyện giải nghệ.
Lúc đó nghĩ mình già quá rồi, nghỉ ngơi rong chơi. Nhưng Ánh Tuyết kéo đi. Tôi đàn. Khán giả lặng đi. Rồi tiếng vỗ tay òa vỡ. Tôi như sống lại những ngày tháng cũ, thấy mình như đang bay. Và đàn trở lại...
Giờ thì ông đi diễn ở khách sạn hàng đêm. Buổi chiều bà đưa ông đi. Hai người thuộc từng con ngõ nhỏ Sài Gòn. Họ đã thành bạn đường biết bao nhiêu năm nay trên nhiều đoạn đường khốn khó. Bà nghe tiếng ông để biết ông khỏe hay bệnh. Ông nghe ý bà để biết chuyện buồn vui.
Trước ông đi diễn ở khách sạn rồi qua ATB, giờ ông mở thêm phòng trà "Tiếng dương cầm" nữa. "Tiếng dương cầm" nhỏ, ông mở để cho bà có chỗ đi làm, để bà đỡ nhớ những năm tháng dài xa sân khấu và tìm được niềm vui khi gặp ánh đèn màu.
Bà và ông gặp nhau khi biểu diễn chung trong một vũ trường. Khi ấy, bà là một nghệ sỹ nhảy thiết hài (tap dance). Còn ông là một nghệ sỹ dương cầm trong ban nhạc. Họ gặp, cảm mến rồi yêu nhau.
Để rồi, khi những đứa con ra đời, người phụ nữ này đã chính thức từ bỏ những bước chân sôi động, bỏ quên những chiếc hài để bắt đầu đời cơm áo.
Ngày sau giải phóng, khi ông vào làm ở trạm bán vé bến xe miền Tây rồi bắt đầu tham gia đội văn nghệ quần chúng ở bến, bà cũng chỉ làm khán giả trung thành. Để rồi khi cuộc sống dần ổn định, ông trở lại, tiếp tục chơi đàn, viết nhạc. Còn bà đã chính thức xóa mình khỏi những dự tính cho nghề. Bà không có tình yêu nào ngoài tình yêu người đàn ông tài hoa nhút nhát này. Thế nên ông biết ơn bà. Để đến khi về già, ông vẫn muốn mở phòng trà, như nơi chốn đi về cho hai tâm hồn nghệ sỹ.
Tôi biết, ông biết ơn bà không chỉ vì những điều như thế. Thẳm sâu trong tâm hồn ông là một điều khó nói thành lời. Mối tình đầu của ông, cô thiếu nữ ngày xưa đã trở thành một phần đâu đó trong tâm trí ông, ẩn hiện trong những lời hát.
Họ đã yêu nhau non nớt, rồi bị gia đình chia rẽ và mất nhau. Người con gái ấy nay đã thành một bà già, vẫn âm thầm nâng niu mối tình đầu như cất giữ một vật thiêng nơi xứ người. Và đó chính là điều làm ông bao năm day dứt.
Người phụ nữ của ông, ở bên ông, lắng nghe từng hơi thở của ông, hẳn là người hiểu nhất. Nhưng gạt bỏ thói thường đàn bà, bà vẫn âm thầm an ủi ông trong những lúc chán nản và tuyệt vọng, vẫn chia sẻ với ông những nỗi niềm thường nhật. Tôi nghĩ rằng, người phụ nữ này cất giấu được mọi chuyện, có lẽ vì biết yêu một tiếng đàn.
Tiếng đàn ấy bắt nguồn từ trong những giấc mơ thơ bé của ông. Khi ấy, ba ông mua cây đàn cho anh chị tập, còn ông bị tuyệt đối cấm. Đã có khi cậu bé Nguyễn Đình Ánh mơ mình được sờ tay vào những phím đàn mà thôi.
Ba ông, một người nghiêm khắc và gia trưởng, mong muốn con chuyên tâm chuyện sách đèn. Nhưng người cha ấy không tưởng tượng được rằng, đứa con nhỏ của mình đã cặm cụi bên bàn học, vẽ bàn phím dương cầm để tập những nốt "mi pha son" đầu tiên.
Và rồi, ở tuổi mười ba, cậu bé ấy đã quyết liệt chọn con đường âm nhạc, trở thành một nghệ sỹ dương cầm, dù cha mình có bắt rời nhà để tự tìm đường lập thân, kiếm sống bằng đàn ca.
Tiếng đàn ấy, có thể được ngân lên từ Hoàng Nguyên, người viết bản nhạc tình "Ai lên xứ hoa đào". Hoàng Nguyên dạy cho ông những nốt nhạc, dạy ông cả cốt cách của một người nghệ sỹ. Và Hoàng Nguyên cũng là người thầy dám chấp nhận sự trưởng thành vượt trội của học trò.
Tiếng đàn ấy có thể lắng sâu dần vào những năm tháng sau này, khi cả Sài Gòn rung chuyển, đổi thay, đi qua cũ và mới, đi qua cả những vất vả và nỗi bất như ý của đời người, để rồi ông vẫn ngồi đó, hiền lành bên bà. Dường như trong lòng họ ít đổi thay.
Cả đời mình, Nguyễn Ánh 9 chỉ phát hành một album nhạc hòa tấu dương cầm. Không phải là kỹ thuật điêu luyện cầu kỳ, tiếng đàn ông nghe trong những buổi chiều muộn, thường day dứt buồn. Như một thứ men tình, thấm dần, dành cho những người đã đi qua nhiều biến động trong tình yêu và đời sống.
Giờ thì ngày nào ông cũng đàn mười mấy tiếng, vừa diễn vừa tập, không tập thấy người bứt rứt, quên tập là tay cứng lại, kém đi nhịp dẻo dai. Cả đời ông như một mối nợ duyên với tiếng dương cầm.
![]() |
Trong ngôi nhà của mình, nhạc sỹ Giáng Son vẫn dùng cây đàn cũ của nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 để sáng tác. Có lẽ, những bản nhạc trong veo của Giáng Son cũng có chút liên quan đến tiếng đàn của ông.
Giáng Son cùng nhóm "Năm dòng kẻ" du Nam, hát "Tình khúc chiều mưa" của Nguyễn Ánh 9 ở phòng trà "Tiếng tơ đồng". Đó là lần đầu tiên ông gặp những cô gái xứ Bắc. Họ làm mới ca khúc này trong thời gian sau đó.
Giáng Son về Hà Nội mang theo cây đàn, bắt đầu con đường riêng. Bốn cô gái còn lại được nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 coi như bốn cô con gái, sắp xếp phòng trong nhà cho nghỉ, rồi giới thiệu những tụ điểm hát trong thành phố.
Và họ đã mang theo hành trang ấy đi đến thành công ngày hôm nay, thành một trong những nhóm hát được yêu mến nhất, không chỉ bởi chất giọng mà còn là phong cách và sự đầu tư kỹ lưỡng cho từng bài hát.
Hồng Ngọc nói, "5 Dòng Kẻ" đứng được ở thành phố mà đi đâu cũng gặp ca sỹ như Sài Gòn là nhờ công "Bố 9". Ông nói, phòng trà "Tiếng dương cầm" cũng là một nơi cho những người bắt đầu như ngày đầu tiên của "5 dòng kẻ".
Phòng trà nhỏ, phố cũng nhỏ, cạnh tranh thì nhiều, nhưng ông vẫn đi đàn ở khách sạn để lấy tiền bù lỗ, để duy trì một nơi cho các nghệ sỹ trẻ hát, tìm đường đi cho mình. Và tất nhiên, phòng trà cũng có những khán giả trung thành. Họ là những người trung niên, đi tìm những cảm xúc thành thật. Có thể họ tìm đến nơi này như tìm đến một nơi sẻ chia...
Viết đến đây tôi mới chợt nhận ra, mình toàn đi... ngoài lề mà quên mất phần ca khúc, phần tạo nên tên tuổi ông trong số đông quần chúng. Ông sáng tác không nhiều lắm, nhưng tôi đã nghe và thích gần hết trong số ấy. Như "Không", "Mùa thu cánh nâu", "Tình khúc chiều mưa", "Ai đưa em về", "Tình yêu đến trong giã từ", "Biệt khúc", "Tiếng hát lạc loài", "Bơ vơ"...
Nhưng tôi đã nhớ biết bao nhiêu bài hát "Cô đơn" trong một buổi tối Sài Gòn không còn người xe, ngồi trên lề con lộ lớn xuyên thủng quận 10, tiếng hát Bích Hồng như một lời kể chuyện.
Tôi đã nghe bài hát ấy không biết bao lần. Và lần nào cũng thấy một nỗi buồn tiếc, như một điều gì đó mới mất. Có thể đó là tình yêu. Nhưng cũng có thể đó chỉ là cảm giác mình đang cô đơn trong phút giây nào đó trên mặt đất. Chạm đến đáy tâm can, nhưng không rơi vào bi lụy.
Có thể trong những nỗi nhớ của tôi về Sài Gòn, sẽ có giây phút trên lề con lộ ấy, nhìn những hàng cây lá rơi rất khẽ trong đêm, nhìn những chiếc xe trễ muộn lao mạnh mẽ về đâu đó như đi tìm ánh sáng, tôi nghe "Tình yêu đã chết trong tôi, nụ cười đã tắt trên môi. Chỉ còn tiếc nuối khôn nguôi, cô đơn bơ vơ, tiếng hát lạc loài" để biết rằng, những ngày tháng ấy tình yêu đã không còn bên tôi nữa.
Tôi về lại Hà Nội, trong một nỗi nhớ bàng bạc một thành phố có loài chim sẻ đậu trên những tòa cao ốc. Và tiếng đàn ông, như thể chỉ đàn cho riêng mình tôi, trong một đêm như thế. Có lẽ tôi không thể viết thêm gì về ông ngoài những ký ức rời rạc như vậy.
Vì thực tâm ông không chờ tôi viết mới chơi đàn, không vì tôi buồn ông mới viết "Cô đơn". Ông viết bằng chính những tâm sự đời ông và tôi như một kẻ giương ăng ten tìm được một nơi đồng cảm. Để ngồi lại giữa thành phố rét mướt của mình, tôi như vẫn lạc vào trong tiếng đàn của ông hôm ấy. Tiếng dương cầm chạm tới đáy cô đơn...
