Nhớ và không quên
Trong câu chuyện với anh, anh nhớ hết những điều anh làm ra và không hề quên một mảy may nào những người đã giúp mình thành đạt. Anh tâm niệm: Không được quên mình mới là thành thực. Không được quên người, điều ấy càng thành thực hơn khi muốn mình là kẻ có phẩm hạnh...
Anh với tay lên gác xép lấy xuống một chiếc cặp ba dây chật cứng những giấy tờ xếp ở bên trong. Tôi đoán đó là đống hồ sơ tài liệu gì đó của anh, liền hỏi vui:
- Có gì trong ấy mà anh cất cẩn thận thế? Đã sắp mãn hạn người rồi mà còn lưu trữ nhiều giấy tờ thế để làm gì. Đời người, lắm lúc chỉ cái chứng minh thư, cái sổ hộ khẩu là xong rồi...
Anh lấy chiếc khăn lau lau phía ngoài chiếc cặp rồi lần mở từng nút dây ra và thong thả bảo tôi:
- Cả đời tôi ở đây đấy cậu ạ. Nuôi được con lợn mổ ăn hoặc đem bán lấy tiền cuối cùng rồi cũng hết. Trồng được hạt thóc, xay giã giần sàng rồi kết thúc cũng thành hạt cơm đút bụng. Của nả làm ra rồi cũng theo vào cái dạ dày mình mà tiêu hóa sạch. Riêng cái anh này là chẳng thể tiêu được, chẳng thể mất được...
Chiếc cặp ba dây được mở ra. Giữa lòng nó là một xếp giấy cũ, dày cỡ gần gang tay. Tôi để ý kỹ, toàn là loại giấy đã in sách. Lại có cả giấy báo in nữa. Tôi đã nhận ra cái quý hóa được nâng niu ấy của anh, cái thiêng liêng được lưu lại ấy của anh khi ta được soi mắt vào những trang chữ.
- Đấy, cậu xem. Từ năm... hình như năm một chín năm tám, một chín năm chín thì phải. Mình có ghi ngày, tháng, năm sáng tác ở cuối bài nhưng biên tập họ đã lược đi mất. Chỉ có bốn câu lục bát chống hạn thôi. Tác phẩm đầu tay của mình trong cuốn "Thơ ca nhân dân" của Ty Văn hóa xuất bản đấy. Hôm ấy cậu biết mình tốn bao nhiêu vịt với rượu chiêu đãi bạn bè không? Bốn vịt cùng hai chai. Có đánh cả tiết canh hẳn hoi nữa nhá. Quả là một bữa ăn mừng thơ đã đời. Đám bạn vỗ đùi tán thưởng hôm ấy nay cũng đã vơi gần hết rồi...
Cầm trang sách khổ 13x19 trên tay, tôi nhìn bốn câu thơ của anh in trên nền giấy, ở phần cuối cùng chung trang với mấy tác giả khác mà thấy trào lên sung sướng cho cái nghề làm chữ nghĩa buổi hưng thịnh ấy. Anh còn kể thêm, có được bốn câu thơ ấy in sách anh đã phải gửi không biết bao nhiêu phong bì lên trước đó rồi. Ước tính phải có đến vài chục cái thư. Mà phong bì nào trong đó cũng có ít nhất là hai bài thơ anh chép vào giấy vở học trò nắn nót và một mặt hẳn hoi. Ngày ấy chữ nghĩa được in sao mà khó đến vậy. Chỉ cần được in, chỉ cần được công nhận trên chữ trên giấy in là mình có giá trị lắm rồi...
Chỉ bốn câu thơ viết về người nông dân chống hạn cuối những năm năm mươi thôi mà đến giờ nửa thế kỷ có lẻ rồi vẫn làm người viết ra nó ứa nước mắt khi kể lại. Tôi, người nghe, người xem chỉ biết ghi nhận cái chân tình của một con người trước chữ nghĩa thuở nó còn hiếm hoi. Và lúc này đây, trước tình cảm của anh về ký ức tôi nghĩ nó vẫn còn nguyên sự hiếm hoi như thế...
Anh giở cho tôi xem tiếp những tác phẩm của mình. Anh làm cả ca dao, tấu hài, hoạt cảnh. Nét dân dã thấm vào cảm xúc của anh nên có lúc anh viết cả ca khúc chèo theo làn điệu cổ. Những sáng tác của anh đều được in, khi thì ở tập sách "Thơ ca nhân dân", khi thì ở Tạp chí Văn nghệ tỉnh...
Anh nói với tôi:
- Từ dạo được động bút rồi được in ấn đến giờ, tất tật tôi đều cắt bài từ báo từ sách ra lưu vào đây, coi như gia bảo của đời mình. Bài nào cũng thích, bài nào cũng quý. "Vợ mình" mà cậu. Sướng nhất là hai bài này. Mình cứ nghĩ chả bao giờ bước vào được cái chiếu văn Trung ương ấy thế mà có lúc được ngồi cùng khung với mấy cụ tổ sư, mấy bác đàn anh đấy cậu ạ. Cũng phải ơn cái tay biên tập trẻ ấy. Vào loại tuổi em, tuổi cháu mình thôi nhưng nhiệt tình đến thế là cùng. Hắn làm thơ sau tôi nhưng thành đạt hơn tôi. Cũng nhờ hắn giới thiệu mà tôi mới có điều kiện được ngồi ở chiếu văn học của Hà Nội đấy. Cha ấy trẻ mà chân thực, chân thành. Những người như thế đáng cho ta nhớ mãi lắm chứ cậu...
Trong câu chuyện với anh, anh nhớ hết những điều anh làm ra và không hề quên một mảy may nào những người đã giúp mình thành đạt. Anh tâm niệm: Không được quên mình mới là thành thực. Không được quên người, điều ấy càng thành thực hơn khi muốn mình là kẻ có phẩm hạnh...
Anh nghĩ thật sâu xa tuy phần viết có thể không sâu xa bằng. Nhưng tôi quý báu thật sự tất cả những điều anh làm ra.
- Trong cái kho ba dây độc nhất vô nhị này anh quý nhất tác phẩm nào?
Anh nói ngay:
- Bài thơ viết về mẹ. Đây là bài thơ hay nhất trong đời sáng tác của mình. Tuy vậy, nó vẫn chẳng bằng "chỗ ướt mẹ nằm" trong ca dao cổ đâu. Nhưng vẫn quý, quý lắm. Máu thịt mà...
Anh vỗ nhẹ tay vào chồng giấy chỗ cặp ba dây như muốn nói thêm điều gì đó với khách về tình cảm của mình với những điều mình đã làm ra...