Ông đầu xứ với “Học giả học thật” và “Học giả giả học”
Kết quả tìm lại di sản của nhà văn hóa Ngô Tất Tố cho biết nhiều điều tiên đoán và ứng xử của con người quý chữ nghĩa, trọng học hành - Ông Đầu xứ với các nhân vật thành danh của dàn “học giả học thật”, với cả những “học giả giả học” của xã hội đương thời.
Trong cuộc tranh luận tay ba giữa Trần Trọng Kim, Phan Khôi và Ngô Tất Tố về Nho giáo, đáng chú ý có cuốn sách “Phê bình Nho giáo” của Trần Trọng Kim với lời của Ngô Tất Tố đề ngay ở trang đầu, sau bìa sách: “Tặng Hoài Thanh Nguyễn Đức Nguyên một người trong sạch, thành thật và có nghị lực trong lớp thanh niên ngày nay”. Lời đề tặng đồng nghiệp trẻ tuổi của Ông Đầu xứ (1939) đã được cả cuộc đời sau này của người nhận lời đề tặng khẳng định. Theo hậu duệ của tác giả pho sách lớn “Thi nhân Việt
Trân trọng các học giả làm tự điển giữa buổi chữ quốc ngữ còn nhất sơ thành lập
Ngô Tất Tố luôn trân trọng những đóng góp cho nền quốc âm nước nhà của nhiều người trong số họ.
“Trước đây, quốc âm ta có được để ý đến, nhưng chữ Nho vẫn mạnh hơn, vẫn đè ép tiếng
Nhưng nói về “Tự điển là cái kho tàng của tiếng nói một nước, thì chúng ta xưa nay chưa có bộ nào cho hoàn toàn cả. Chỉ có một vài pho như tự vị của ông Trương Vĩnh Ký, P. Vallot, Genibrel Barbier, G. Cordier… Nước ta không có một cơ quan gì có đủ tài chính, quyền lực để giúp được cho việc làm tự điển thành công”.
Thật đáng “khen ngợi những nhà học giả một thân một mình, cặm cụi trong sự làm việc hàng năm, hàng chục năm, để soạn ra những bộ sách tự điển, như quyển Nam Hoa Pháp Việt tự điển của ông P. Gustave Hué (1937), quyển Hán Việt thành ngữ của ông Bửu Cân (1933) và nhất là các tác phẩm của ông Đào Duy Anh như quyển Hán Việt tự điển (1932), quyển Pháp Việt tự điển (đang in, đã ra quyển một). Phải cần giúp đỡ, phải cần khuyến khích, thì kết quả của những nhà làm tự điển mới tràn rộng ra được và sự chấn hưng tiếng nói của chúng ta mới mong tiến hóa một cách chắc chắn”.
Hãy hỏi ý cụ Sào
Nhân có tranh cãi về việc kỷ niệm cụ Phan Tây Hồ nên theo âm lịch hay Dương lịch (1928), Ngô Tất Tố ngưỡng mộ và đề nghị “Một trong các cách giải quyết là lấy ý kiến của cụ Phan Sào Nam làm chuẩn đích” bởi lẽ “ở nước ta ngày nay, ai là người được quốc dân kính phục và tín nhiệm hơn hết? là cụ Sào
Năm 1937, thấy bài của cụ Phan Bội Châu thuật lại câu chuyện yết kiến ông cựu Toàn quyền Varenne (trên báo Tiếng dân) và bài “Kính dưng cho quan Toàn quyền Brévié” ký tên là Phan Sào Nam (trên số xuân của Thời gian tuần báo), Ngô Tất Tố đã thẳng thắn lên tiếng can ngăn “cụ Phan không nên viết báo, và cũng không nên nói chuyện chính trị làm chi”.
Ngô Tất Tố “cố can cụ Phan đừng nói đến chuyện chính trị” vì nhiều lẽ.
“Chắc ai cũng biết việc làm chính trị bây giờ, nhất là làm chính trị ở xứ này, phải hoạt động, phải xông pha, phải lăn lộn luôn luôn với dân chúng. Có thế mới hòng đi được tới đích. Từ ngày cụ Phan bị bắt đưa cụ vào dưỡng lão trong cảnh sông Hương núi Ngự, cụ đi một bước cũng bị dòm nom, người nào muốn ghé thăm cụ vài phút cũng bị ghi tên vào sổ. Cụ Phan có muốn truyền bá tư tưởng của mình, ngoài cách đăng báo không còn cách nào khác nữa. Nhưng viết báo có như ý được đâu!
…Cụ đã đánh thức hàng mấy vạn người trong lúc người ta đương còn mê mộng. Cụ đã đem hết hạnh phúc trong đời mình mà hy sinh cho dân chúng Việt
Cũng xin các bạn đồng nghiệp nên để cụ Phan ngồi yên, không nên bắt một ông cụ bẩy mươi tuổi đầu còn phải mất công làm quảng cáo cho báo” (Tương lai số 7-1937).
Lời giải về loại “học giả giả học”
“Hai chữ “học giả” thuở xưa tức là kẻ học, chỉ về những kẻ nghiên cứu về một học thuyết nào, hay là theo đuổi một chủ nghĩa nào. Gần đây nó mới thêm một nghĩa nữa: người ta dùng nó để gọi những người học vấn uyên bác, nhất là lại có làm việc khảo cứu, viết ra thành văn thành sách, công bố cho xã hội biết.
Với nghĩa sau đó ở bất kỳ nước nào, cái tên học giả thường được nhiều người coi trọng. Bởi vì đối với học giới, học giả chỉ là những người giàu, cũng như những nhà cự phú đối với tài giới vậy.
Nước ta từ ngày Hán học bị bỏ, nhà Nho thất thế, các học giả Nho chỉ được gọi là thầy đồ hay “đồ gàn”. Thình lình vài năm gần đây thiên hạ, lại muốn ngó lại kho cổ học của phương Đông. Cái phong trào ấy đã mới đẻ ra một số học giả giả hiệu.
Họ học chữ Hán không thông, đọc sách chữ Hán chưa vỡ nghĩa, vì muốn xứng đáng với câu “học thông Âu - Á” họ đã cả gan thuê người và nhờ người dịch chữ Hán rồi ký tên mình và đăng lên báo và in thành sách. Độc giả ở xa tưởng là họ giỏi chữ Hán, kỳ thật ai đã đến gần họ đều biết cái tiếng giỏi đó họ phải mua bằng vài chục đồng một tháng, hoặc hai bữa cơm một ngày.
Vậy thì đối với những người này, hai chữ học giả lại thêm một nghĩa thứ ba, tức là không phải “học thật” vậy.
Tiếng ta, chữ “giả” có phép đặt riêng: thịt lợn nấu với giềng mẻ giống như thịt cầy, gọi là giả cầy, nấu với tiết lợn giống như thịt trâu gọi là giả trâu, nấu với hành dăm giống như thịt chim gọi là giả chim, nấu với đậu nghệ giống như ba ba gọi là giả ba ba. Theo kiểu đó những ông học giả này cũng nên gọi là “giả học” để phân biệt với người học thật” (Đông Pháp - 1944).
Từ chuyện đời thường thuở trước, Ngô Tất Tố đã bình khá thú vị về loại “học giả giả học” hồi xưa, ngẫm nghĩ kỹ, nay có thiếu gì?
Cái lãi lớn của cuộc đời
Đã từng là người trong cuộc, là người đứng chính giữa dòng văn chương táo bạo công kích chế độ cũ, Ngô Tất Tố không đắn đo, không phải mất thời gian nhận đường… mà toàn tâm tham gia Cách mạng Tháng Tám và dấn thân đi kháng chiến.
Trên Việt Bắc, với tư cách là cây bút đã làm chủ vận mệnh, bút pháp đã đỡ phần trĩu nặng oán hờn nhưng vẫn nối tiếp sở trường vốn có, Ngô Tất Tố đã tự tin, hân hoan nêu gương những con người mới xuất hiện trong cuộc kháng chiến đầy gian khổ, ra sức tham gia gây dựng nền móng cho báo chí kháng chiến và góp phần mở đường cho văn học kháng chiến xúc tiến giao lưu với bên ngoài.
Di bút của tác giả, của bạn hữu phần nào cho thấy những suy nghĩ và cuộc sống của Ngô Tất Tố trên Việt Bắc.
“Ông già Tố độ này thanh niên lắm, tôi gặp ở Hội nghị Văn hóa hồi tháng Bảy vừa rồi. Nhiều anh em có thiện cảm với ông già lắm. Tôi có nhờ ông viết cho một cuốn sách” (trích thư của Nguyễn Công Mỹ gửi Phùng Bảo Thạch).
“Dù sao, tôi cũng như bác, chúng ta đều là người gặp may. Trước kia bác và tôi có ngờ đâu đời mình còn được trông thấy một trận đánh đuổi thằng Pháp. Giả sử đánh nó mà thua, chúng ta được trông thấy cũng là sướng rồi. Huống chi bây giờ đánh nó lại được, cái ngày chúng ta thấy nó quị gục cũng không xa nữa. Chắc là bác cũng như tôi, chúng ta đều cho việc đó là cái “lãi” lớn của đời mình. Vì thế chúng ta có thể quên hết các sự gian nan đau khổ, gắng đem hơi sức góp vào sự nghiệp vĩ đại của dân tộc” (theo thư Ngô Tất Tố gửi Phùng Bảo Thạch).
“Cho đến khi toàn quốc đánh Pháp, được tin Ngô Tất Tố đi kháng chiến, tôi thấy vui và tin quá. Ở rừng căn cứ, mỗi lần có dịp “hạ sơn” về trung du và vùng Yên Thế để đón bác Tố “lên” họp, lại càng thấy vui. Nhìn Ngô Tất Tố áo vải đeo chéo cái chăn bông cũng nhuộm nâu, chống gậy qua Đèo Khế, có anh bạn đi sau đã bỏ nhỏ vào tai tôi, giọng anh nghịch “trông kém gì năm đói, chạy đói vùng xuôi để lên khất thực ở thượng du” (Theo Nguyễn Tuân, Báo Văn nghệ - 1982)