Thẩm bình văn chương có phải là lý luận - phê bình?

20:42 08/12/2008
Thiếu sự phân biệt giữa thẩm bình văn chương với phê bình văn học nên mọi nhận xét về văn chương đều được coi là phê bình, đưa tới một thực tế đã tồn tại lâu nay là ai ai cũng có thể viết phê bình, nhất là những người từng có thời dạo bước qua ngưỡng cửa khoa văn các trường đại học.

Từ thời lý luận - phê bình chưa xuất hiện ở Việt Nam với tư cách là một bộ môn khoa học, tự thân các nhà văn, nhà thơ đã có nhu cầu bình phẩm tác phẩm của nhau dựa trên các tiêu chí văn chương ít nhiều mang tính cổ điển. Các tri âm tri kỷ, các "Bá Nha, Tử Kỳ" tập hợp trong các tao đàn để đọc văn đọc thơ rồi nhận xét, bình luận chủ yếu tìm ra cái hay cái đẹp của tác phẩm, và ít thấy chê bai.

Tiền nhân yêu quý văn chương, yêu vẻ đẹp của tác phẩm, và sử dụng các tiêu chí như "văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí"… để đánh giá, khẳng định tài năng cũng như đóng góp văn hóa của mỗi người. Lịch sử văn chương lưu giữ tên tuổi của các tác giả không chỉ ở tác phẩm, mà còn ở các nhận xét, đánh giá mà người đương thời dành cho tác phẩm của họ.

Dẫu lịch sử bình văn ở Việt Nam không có Thánh Thán, Viên Mai... như ở Trung Hoa thì không vì thế mà sự tài hoa, uyên bác về văn chương của Hồ Tông Thốc, Phan Phù Tiên, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm... lại kém giá trị và theo tôi, ý kiến về thơ, về nghệ thuật làm thơ, về thi đức… của các ông vẫn ít nhiều còn mang ý nghĩa lâu dài.

Như điều Lý Tử Tấn (1378 - 1457) viết: "Muốn thơ cổ kính, thanh đạm sẽ gần dung tục, muốn thơ giầu đẹp sẽ gần hoa hòe. Hào phóng sẽ đi đến quá trớn, mộc mạc sẽ tới chỗ quê mùa. Cho nên lời, ý phải giản dị rõ ràng, mạch lạc, thông suốt; thật thà mà không dung tục, kỳ lạ mà không ngoắt ngoéo... Lời trung hậu mà thoát tục, khí cao khoát mà ôn hòa...".

Tuy nhiên chưa thấy ai đặt câu hỏi rằng trong tài sản văn chương những tác giả đã thành danh trong quá khứ, liệu đã từng có cả tác phẩm không thành công, thậm chí… rất dở? Vì qua sự sàng lọc của thời gian thì đến nay, chỉ có tác phẩm thành công, chỉ có nhận xét tinh tế, sâu sắc mới được bảo tồn. Tính vốn tò mò, tôi tự hỏi rằng không rõ các "đại gia" xưa kia có tác phẩm "dở" không nhỉ?

Nhìn nhận tác phẩm văn chương như một sản phẩm tinh thần, tiền nhân khá chú trọng đến việc xem xét ý nghĩa của nó đối với thế quân bình xã hội và đạo đức con người, đối với văn hiến và lòng tự hào dân tộc…

Nghĩa là luôn cắt nghĩa trong sự giao hòa, thống nhất giữa tác phẩm, chủ thể sáng tạo và xã hội. Tuy nhiên thẩm bình văn chương truyền thống, dù tuổi đời hàng nghìn năm, song vẫn chưa vượt ra khỏi các khuôn mẫu khá ổn định, vì thế nó còn có khả năng tạo ra sự khuôn sáo và trong thực tế hiện tượng này đã xảy ra.

Bên cạnh đó, tính chất ngẫu hứng của thẩm bình không tạo ra tiền đề để xã hội hình thành một đội ngũ người làm nghề chuyên nghiệp, công việc này cũng ngẫu hứng, bất chợt như khi người ta viết văn, làm thơ.

Rồi, vì chưa có hệ thống in ấn xuất bản, báo chí, nên thẩm bình văn chương trong quá khứ chỉ dừng lại ở chỗ đáp ứng nhu cầu của một số công chúng hạn chế, có ý nghĩa trong phạm vi hẹp, chưa phổ cập tới công chúng rộng rãi.

Cần phải nói thêm rằng, thẩm bình văn chương truyền thống còn chịu những ràng buộc riêng trong bối cảnh văn chương Việt Nam thời Trung đại chưa có phân biệt rạch ròi giữa văn xuôi với thơ, người ta thường nhìn nhận chúng ở dạng nguyên hợp.

Nhấn mạnh đòi hỏi nghiêm ngặt về niêm luật, về cấu trúc tác phẩm... nên người thẩm bình thường đặt sang một bên, hoặc xem nhẹ các sáng tạo mang tính phá cách của tác giả. Đây cũng là bằng chứng về vai trò và ảnh hưởng của tư duy truyền thống phương Đông đối với hoạt động thực tiễn, nó xây dựng các chuẩn mực nghệ thuật rồi buộc người sáng tạo phải tuân thủ các chuẩn mực nghệ thuật ấy theo nguyên tắc "kính nhi viễn chi", "ôn cố tri tân"..., mà không quan tâm nhiều tới quá trình liên tục vốn có của sự vận động nghệ thuật.

Và cái mới trong văn chương - với tính cách là phát hiện tìm tòi sáng tạo phù hợp với quy luật phát triển của đời sống tinh thần, thường bị gò bó trong khuôn khổ chật hẹp. Như vậy xét đến cùng, nghệ sĩ chỉ sáng tạo trên cơ sở các nguyên tắc đã có và người thẩm bình cũng chỉ định giá tác phẩm trên cơ sở các nguyên tắc đó mà thôi.

Chính vì thế, văn chương Việt Nam thời trung đại tuy từng có đỉnh cao, song do không được đặt trong xu thế phát triển nên đỉnh cao như luôn ở trước mặt hậu thế. Xã hội cổ vũ nghệ sĩ đạt tới đỉnh cao đã có và hầu như không khuyến khích nghệ sĩ vượt qua, người thẩm bình dường như cũng tự thấy không nhất thiết phải phát triển, mở rộng hệ thống các tiêu chí bình giá, họ nương theo "lời cổ nhân đã nói" và như thế cũng đủ để đáp ứng yêu cầu "ôn cố tri tân".

Tất cả những nội dung trên đây có sự khác biệt cơ bản so với lý luận văn học - phê bình văn chương, bộ môn khoa học ra đời trong những điều kiện xã hội riêng, gắn liền với tư duy phân tích ở phương Tây.

Trong lịch sử, không phải ngay từ đầu các khoa học đã ra đời cùng sự có mặt của tư duy phân tích. Ở phương Tây, quá trình từ triết học tách ra để trở thành các khoa học cụ thể phải diễn biến qua hàng chục thế kỷ.

Quá trình này đi cùng với lịch sử nhận thức của con người về thế giới sự vật - hiện tượng, và các khoa học chỉ trở thành một hệ thống khi sự chuyên môn hoá, cụ thể hơn là khi phân công lao động xã hội đã phát triển tới trình độ cao, vượt qua các ranh giới còn ít nhiều mơ hồ của thời cận đại.

Khám phá văn chương trong những mối liên hệ bên trong và bên ngoài của nó, người ta phải xây dựng hệ thống các tiêu chí lúc đầu còn đơn giản, sau đó ngày càng phức tạp, đến mức đưa tới sự ra đời tất yếu của khoa học về văn chương, với hệ thống khái niệm, phạm trù… có tính cách công cụ để nghiên cứu, mà chúng ta thường gọi là lý luận văn học. --PageBreak--

Phân tích, phân tích và phân tích để ngày càng đi sâu khám phá bản chất sự vật - hiện tượng, con đường của tư duy phân tích phương Tây được vận dụng trong văn học nhằm khái quát các quá trình; nghiên cứu các giai đoạn văn chương và nghiên cứu tác giả; phân loại và xác lập tiêu chí thể loại; phân định các khuynh hướng, trào lưu, phương pháp, phong cách… khác nhau ra đời trong quá trình nhận thức - phản ánh hiện thực…

Đặc biệt, bộ môn văn học còn chú ý tới sự vận động cập nhật của văn chương và từ sự đánh giá tác giả, tác phẩm cụ thể trong đời sống văn chương đương đại, nó đưa ra các tổng kết bước đầu, dự báo về xu hướng trong tương lai… qua đó đề xuất gợi ý đối với sáng tác, góp phần điều chỉnh thị hiếu văn chương của công chúng.

So sánh với đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn khác, đối tượng nghiên cứu của văn học có phần phức tạp hơn, do văn chương là sản phẩm của sự phối kết tinh vi giữa khách quan (hiện thực) với chủ quan (tác giả), là tổng thể các vấn đề, các nội dung cực kỳ đa dạng, đa diện, đa tầng nghĩa; mà các vấn đề, các nội dung này lại gắn liền với thế giới tình cảm phức tạp, tinh tế, không kém phần bí hiểm của con người,… nên việc nghiên cứu cần tới một tương thích cần thiết. Đây là lời giải cho câu hỏi tại sao hàng trăm năm nay trong lý luận văn học lại luôn xuất hiện các cách tiếp cận mới, các lý thuyết mới, các khái niệm mới…

Và điều phải nhận thức chính xác là mỗi cách tiếp cận, mỗi lý thuyết chỉ có khả năng tiếp cận một phương diện nào đó của tác phẩm và tổng hoà các cách tiếp cận ấy chỉ dựng nên một bức tranh "gần đúng" (xin nhấn mạnh - NH) về đối tượng. Điều này cho thấy tại sao tác phẩm xuất sắc (như Truyện Kiều chẳng hạn) lại được bàn luận, phân tích, đánh giá… suốt mấy trăm năm.

Do vậy, phạm vi khảo sát của văn học là rất rộng, ngoài việc phải tự nó tìm ra cách thức tiếp cận mới, đôi khi còn phải "vay mượn" tri thức của một số bộ môn khoa học có liên quan để hỗ trợ cho nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu văn học - với tư cách là khoa học về văn chương, luôn cần tới sự tỉnh táo của lý trí để rút các ra kết luận về đối tượng càng chính xác càng hiệu quả, thì phê bình văn học - trong tư cách là một phái sinh của lý luận văn học trong quan hệ với thực tiễn, ngoài sự tỉnh táo của lý trí còn quan hệ mật thiết với thế giới cảm xúc.

Đối với tác phẩm, cảm xúc là yếu tố đầu tiên, là "chìa khoá" mở ra cánh cửa đi vào thế giới lý trí - tình cảm riêng của tác phẩm, từ góc độ này thì phê bình văn chương có tiếng nói chung với thẩm bình văn chương truyền thống khi cùng cố gắng đi tìm, khẳng định giá trị tinh thần của tác phẩm. Song đối với phê bình thì không chỉ có thế, sự kết hợp hài hoà giữa lý trí và tình cảm giúp nó không rơi vào tình trạng khô cứng, cũng như không rơi vào tình trạng chỉ thể hiện những mỹ cảm văn chương thuần tuý.

Như vậy, những bài thẩm bình mà bản chất là cảm nhận văn chương không đồng nghĩa với phê bình văn học. Xưa kia và đến ngày nay, chỉ có bài thẩm bình nào ra đời từ sự cảm nhận tinh tế và phân tích ở trình độ cao mới nhận được chia sẻ của người đọc (ít nhất là của bạn nghề).

Điều đó lý giải tại sao ngày nay lời thẩm bình nhân danh phê bình văn học của nhiều nhà văn, nhà thơ về tác phẩm thường là mất hút trong đời sống văn học hoặc dễ gây tranh cãi, nhất là khi sự thẩm bình ấy thực chất chỉ là cái "áo khoác" của tình cảm bạn bè, của các quan hệ "cánh hẩu"...

Thiếu sự phân biệt giữa thẩm bình văn chương với phê bình văn học nên mọi nhận xét về văn chương đều được coi là phê bình, đưa tới một thực tế đã tồn tại lâu nay là ai ai cũng có thể viết phê bình, nhất là những người từng có thời dạo bước qua ngưỡng cửa khoa văn các trường đại học.

Nên tôi không ngạc nhiên khi một ông thủ trưởng cũ vốn đã tốt nghiệp Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại học KHXH - NV Hà Nội) tự tin nói với tôi rằng: "Bao giờ về hưu, tớ sẽ viết phê bình văn học".

Tôi không nói gì nhưng đã sẵn sàng tinh thần để phản biện bài phê bình của ông, dù là thủ trưởng cũ, vì tôi e ngại sau bao nhiêu năm viết những bài báo vô danh nay về già lại quay sang viết phê bình văn học thì chỉ làm "hỏng" phê bình chứ làm sao mà giúp phê bình mở mày mở mặt!

PV

Trong chương trình “Mãi mãi niềm tin theo Đảng” vào tối 16/1 – chương trình chính luận nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng, hướng tới Đại hội XIV của Đảng, ca sĩ Anh Tú tạo nhiều bất ngờ khi giới thiệu đến công chúng ca khúc mang tên “Thưa Đảng” do chính anh sáng tác.

Trước thềm trận bán kết Vòng chung kết U23 châu Á, cái tên U23 Trung Quốc mang đến nhiều suy ngẫm lẫn tò mò. Không hào nhoáng, không áp đảo về mặt thế trận, đội bóng trẻ đến từ Đông Á lại lặng lẽ tiến sâu bằng một con đường khác biệt: phòng ngự đến tận cùng và chắt chiu từng khoảnh khắc sinh tồn. Đó không phải là lối chơi hấp dẫn, nhưng lại là một bài toán thực sự hóc búa cho bất kỳ đối thủ nào, trong đó có U23 Việt Nam.

Giữa trùng khơi, trong nhịp sóng vỗ nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc, hơn 1.900 người dân cùng các lực lượng vũ trang trên đặc khu Thổ Châu (tỉnh An Giang) đang hân hoan, tin tưởng hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc mà còn mang theo bao mong muốn, kỳ vọng về một cuộc chuyển mình lịch sử cho Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình.

Thực hiện cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, Công an tỉnh Điện Biên vừa bắt 1 đối tượng, tang vật thu giữ 10 bánh ma túy.

Trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu có những chuyển dịch phức tạp, Greenland giờ không chỉ là một hòn đảo tự trị băng giá xa xôi của Đan Mạch. Tổng thống Donald Trump gần đây thường xuyên khẳng định, Mỹ phải kiểm soát Greenland để chống lại mối đe dọa từ các đối thủ ở khu vực Bắc Cực. Đặc biệt, với sự xuất hiện của hệ thống Vòm Vàng và hệ thống vũ khí hiện đại, nhu cầu kiểm soát Greenland trở nên đặc biệt cấp thiết.

Trong không khí Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng chí Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh đã trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí trung ương và địa phương về tầm nhìn, mục tiêu và những định hướng lớn nhằm xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, bền vững, hiện đại, giàu bản sắc; phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.

Những ngày gần đây, dư luận cả nước đặc biệt quan tâm đến thông tin báo chí phản ánh việc xuất hiện một ngôi nhà rường bằng gỗ dựng ngay trước cổng vào bửu thành của Lăng Hoàng thái hậu Từ Dụ, đồng thời một cổng gỗ dạng tam quan cũng được dựng ở khu vực phía ngoài Lăng vua Thiệu Trị. Cả hai công trình đều do Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế cho xây dựng, với lý do “phục vụ hương khói, nghi lễ” và được thực hiện từ nguồn xã hội hóa.

Với 88 ca ghép gan cho bệnh nhi, Bệnh viện Nhi Trung ương hiện là đơn vị có số ca ghép gan nhi nhiều nhất tại Việt Nam, trong đó có những ca đòi hỏi kỹ thuật khó. Sau mỗi ca ghép thành công là một tương lai được viết lại, một cuộc đời được hồi sinh từ lòng nhân ái của người hiến và gia đình, cùng sự tận tâm, nỗ lực của các y bác sĩ. Ca ghép thứ 88 được thực hiện cuối năm 2025 là dấu mốc quan trọng đánh dấu lần đầu tiên Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện thành công ca ghép gan từ người hiến chết não cho bệnh nhi 3 tuổi bị teo đường mật bẩm sinh.

Ngày 18/1, Ban Quản lý dự án Chương trình phát triển các đô thị loại II (thuộc Sở Tài chính TP Huế) cho biết, đã ban hành quyết định xử phạt Công ty Cổ phần 479 Hòa Bình với tổng số tiền hơn 1,5 tỷ đồng do vi phạm tiến độ hợp đồng tại gói thầu số 28 nâng cấp, mở rộng cầu Vỹ Dạ và xây dựng tuyến đường 100m nối khu đô thị A-B thuộc khu đô thị An Vân Dương.

©2004. Bản quyền thuộc về Báo Công An Nhân Dân.
®Không sao chép dưới mọi hình thức khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Báo Công An Nhân Dân.
English | 中文