Thẩm bình văn chương có phải là lý luận - phê bình?
Từ thời lý luận - phê bình chưa xuất hiện ở Việt Nam với tư cách là một bộ môn khoa học, tự thân các nhà văn, nhà thơ đã có nhu cầu bình phẩm tác phẩm của nhau dựa trên các tiêu chí văn chương ít nhiều mang tính cổ điển. Các tri âm tri kỷ, các "Bá Nha, Tử Kỳ" tập hợp trong các tao đàn để đọc văn đọc thơ rồi nhận xét, bình luận chủ yếu tìm ra cái hay cái đẹp của tác phẩm, và ít thấy chê bai.
Tiền nhân yêu quý văn chương, yêu vẻ đẹp của tác phẩm, và sử dụng các tiêu chí như "văn dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí"… để đánh giá, khẳng định tài năng cũng như đóng góp văn hóa của mỗi người. Lịch sử văn chương lưu giữ tên tuổi của các tác giả không chỉ ở tác phẩm, mà còn ở các nhận xét, đánh giá mà người đương thời dành cho tác phẩm của họ.
Dẫu lịch sử bình văn ở Việt Nam không có Thánh Thán, Viên Mai... như ở Trung Hoa thì không vì thế mà sự tài hoa, uyên bác về văn chương của Hồ Tông Thốc, Phan Phù Tiên, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm... lại kém giá trị và theo tôi, ý kiến về thơ, về nghệ thuật làm thơ, về thi đức… của các ông vẫn ít nhiều còn mang ý nghĩa lâu dài.
Như điều Lý Tử Tấn (1378 - 1457) viết: "Muốn thơ cổ kính, thanh đạm sẽ gần dung tục, muốn thơ giầu đẹp sẽ gần hoa hòe. Hào phóng sẽ đi đến quá trớn, mộc mạc sẽ tới chỗ quê mùa. Cho nên lời, ý phải giản dị rõ ràng, mạch lạc, thông suốt; thật thà mà không dung tục, kỳ lạ mà không ngoắt ngoéo... Lời trung hậu mà thoát tục, khí cao khoát mà ôn hòa...".
Tuy nhiên chưa thấy ai đặt câu hỏi rằng trong tài sản văn chương những tác giả đã thành danh trong quá khứ, liệu đã từng có cả tác phẩm không thành công, thậm chí… rất dở? Vì qua sự sàng lọc của thời gian thì đến nay, chỉ có tác phẩm thành công, chỉ có nhận xét tinh tế, sâu sắc mới được bảo tồn. Tính vốn tò mò, tôi tự hỏi rằng không rõ các "đại gia" xưa kia có tác phẩm "dở" không nhỉ?
Nhìn nhận tác phẩm văn chương như một sản phẩm tinh thần, tiền nhân khá chú trọng đến việc xem xét ý nghĩa của nó đối với thế quân bình xã hội và đạo đức con người, đối với văn hiến và lòng tự hào dân tộc…
Nghĩa là luôn cắt nghĩa trong sự giao hòa, thống nhất giữa tác phẩm, chủ thể sáng tạo và xã hội. Tuy nhiên thẩm bình văn chương truyền thống, dù tuổi đời hàng nghìn năm, song vẫn chưa vượt ra khỏi các khuôn mẫu khá ổn định, vì thế nó còn có khả năng tạo ra sự khuôn sáo và trong thực tế hiện tượng này đã xảy ra.
Bên cạnh đó, tính chất ngẫu hứng của thẩm bình không tạo ra tiền đề để xã hội hình thành một đội ngũ người làm nghề chuyên nghiệp, công việc này cũng ngẫu hứng, bất chợt như khi người ta viết văn, làm thơ.
Rồi, vì chưa có hệ thống in ấn xuất bản, báo chí, nên thẩm bình văn chương trong quá khứ chỉ dừng lại ở chỗ đáp ứng nhu cầu của một số công chúng hạn chế, có ý nghĩa trong phạm vi hẹp, chưa phổ cập tới công chúng rộng rãi.
Cần phải nói thêm rằng, thẩm bình văn chương truyền thống còn chịu những ràng buộc riêng trong bối cảnh văn chương Việt Nam thời Trung đại chưa có phân biệt rạch ròi giữa văn xuôi với thơ, người ta thường nhìn nhận chúng ở dạng nguyên hợp.
Nhấn mạnh đòi hỏi nghiêm ngặt về niêm luật, về cấu trúc tác phẩm... nên người thẩm bình thường đặt sang một bên, hoặc xem nhẹ các sáng tạo mang tính phá cách của tác giả. Đây cũng là bằng chứng về vai trò và ảnh hưởng của tư duy truyền thống phương Đông đối với hoạt động thực tiễn, nó xây dựng các chuẩn mực nghệ thuật rồi buộc người sáng tạo phải tuân thủ các chuẩn mực nghệ thuật ấy theo nguyên tắc "kính nhi viễn chi", "ôn cố tri tân"..., mà không quan tâm nhiều tới quá trình liên tục vốn có của sự vận động nghệ thuật.
Và cái mới trong văn chương - với tính cách là phát hiện tìm tòi sáng tạo phù hợp với quy luật phát triển của đời sống tinh thần, thường bị gò bó trong khuôn khổ chật hẹp. Như vậy xét đến cùng, nghệ sĩ chỉ sáng tạo trên cơ sở các nguyên tắc đã có và người thẩm bình cũng chỉ định giá tác phẩm trên cơ sở các nguyên tắc đó mà thôi.
Chính vì thế, văn chương Việt
Tất cả những nội dung trên đây có sự khác biệt cơ bản so với lý luận văn học - phê bình văn chương, bộ môn khoa học ra đời trong những điều kiện xã hội riêng, gắn liền với tư duy phân tích ở phương Tây.
Trong lịch sử, không phải ngay từ đầu các khoa học đã ra đời cùng sự có mặt của tư duy phân tích. Ở phương Tây, quá trình từ triết học tách ra để trở thành các khoa học cụ thể phải diễn biến qua hàng chục thế kỷ.
Quá trình này đi cùng với lịch sử nhận thức của con người về thế giới sự vật - hiện tượng, và các khoa học chỉ trở thành một hệ thống khi sự chuyên môn hoá, cụ thể hơn là khi phân công lao động xã hội đã phát triển tới trình độ cao, vượt qua các ranh giới còn ít nhiều mơ hồ của thời cận đại.
Khám phá văn chương trong những mối liên hệ bên trong và bên ngoài của nó, người ta phải xây dựng hệ thống các tiêu chí lúc đầu còn đơn giản, sau đó ngày càng phức tạp, đến mức đưa tới sự ra đời tất yếu của khoa học về văn chương, với hệ thống khái niệm, phạm trù… có tính cách công cụ để nghiên cứu, mà chúng ta thường gọi là lý luận văn học. --PageBreak--
Phân tích, phân tích và phân tích để ngày càng đi sâu khám phá bản chất sự vật - hiện tượng, con đường của tư duy phân tích phương Tây được vận dụng trong văn học nhằm khái quát các quá trình; nghiên cứu các giai đoạn văn chương và nghiên cứu tác giả; phân loại và xác lập tiêu chí thể loại; phân định các khuynh hướng, trào lưu, phương pháp, phong cách… khác nhau ra đời trong quá trình nhận thức - phản ánh hiện thực…
Đặc biệt, bộ môn văn học còn chú ý tới sự vận động cập nhật của văn chương và từ sự đánh giá tác giả, tác phẩm cụ thể trong đời sống văn chương đương đại, nó đưa ra các tổng kết bước đầu, dự báo về xu hướng trong tương lai… qua đó đề xuất gợi ý đối với sáng tác, góp phần điều chỉnh thị hiếu văn chương của công chúng.
So sánh với đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn khác, đối tượng nghiên cứu của văn học có phần phức tạp hơn, do văn chương là sản phẩm của sự phối kết tinh vi giữa khách quan (hiện thực) với chủ quan (tác giả), là tổng thể các vấn đề, các nội dung cực kỳ đa dạng, đa diện, đa tầng nghĩa; mà các vấn đề, các nội dung này lại gắn liền với thế giới tình cảm phức tạp, tinh tế, không kém phần bí hiểm của con người,… nên việc nghiên cứu cần tới một tương thích cần thiết. Đây là lời giải cho câu hỏi tại sao hàng trăm năm nay trong lý luận văn học lại luôn xuất hiện các cách tiếp cận mới, các lý thuyết mới, các khái niệm mới…
Và điều phải nhận thức chính xác là mỗi cách tiếp cận, mỗi lý thuyết chỉ có khả năng tiếp cận một phương diện nào đó của tác phẩm và tổng hoà các cách tiếp cận ấy chỉ dựng nên một bức tranh "gần đúng" (xin nhấn mạnh - NH) về đối tượng. Điều này cho thấy tại sao tác phẩm xuất sắc (như Truyện Kiều chẳng hạn) lại được bàn luận, phân tích, đánh giá… suốt mấy trăm năm.
Do vậy, phạm vi khảo sát của văn học là rất rộng, ngoài việc phải tự nó tìm ra cách thức tiếp cận mới, đôi khi còn phải "vay mượn" tri thức của một số bộ môn khoa học có liên quan để hỗ trợ cho nghiên cứu. Tuy nhiên, nếu văn học - với tư cách là khoa học về văn chương, luôn cần tới sự tỉnh táo của lý trí để rút các ra kết luận về đối tượng càng chính xác càng hiệu quả, thì phê bình văn học - trong tư cách là một phái sinh của lý luận văn học trong quan hệ với thực tiễn, ngoài sự tỉnh táo của lý trí còn quan hệ mật thiết với thế giới cảm xúc.
Đối với tác phẩm, cảm xúc là yếu tố đầu tiên, là "chìa khoá" mở ra cánh cửa đi vào thế giới lý trí - tình cảm riêng của tác phẩm, từ góc độ này thì phê bình văn chương có tiếng nói chung với thẩm bình văn chương truyền thống khi cùng cố gắng đi tìm, khẳng định giá trị tinh thần của tác phẩm. Song đối với phê bình thì không chỉ có thế, sự kết hợp hài hoà giữa lý trí và tình cảm giúp nó không rơi vào tình trạng khô cứng, cũng như không rơi vào tình trạng chỉ thể hiện những mỹ cảm văn chương thuần tuý.
Như vậy, những bài thẩm bình mà bản chất là cảm nhận văn chương không đồng nghĩa với phê bình văn học. Xưa kia và đến ngày nay, chỉ có bài thẩm bình nào ra đời từ sự cảm nhận tinh tế và phân tích ở trình độ cao mới nhận được chia sẻ của người đọc (ít nhất là của bạn nghề).
Điều đó lý giải tại sao ngày nay lời thẩm bình nhân danh phê bình văn học của nhiều nhà văn, nhà thơ về tác phẩm thường là mất hút trong đời sống văn học hoặc dễ gây tranh cãi, nhất là khi sự thẩm bình ấy thực chất chỉ là cái "áo khoác" của tình cảm bạn bè, của các quan hệ "cánh hẩu"...
Thiếu sự phân biệt giữa thẩm bình văn chương với phê bình văn học nên mọi nhận xét về văn chương đều được coi là phê bình, đưa tới một thực tế đã tồn tại lâu nay là ai ai cũng có thể viết phê bình, nhất là những người từng có thời dạo bước qua ngưỡng cửa khoa văn các trường đại học.
Nên tôi không ngạc nhiên khi một ông thủ trưởng cũ vốn đã tốt nghiệp Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại học KHXH - NV Hà Nội) tự tin nói với tôi rằng: "Bao giờ về hưu, tớ sẽ viết phê bình văn học".
Tôi không nói gì nhưng đã sẵn sàng tinh thần để phản biện bài phê bình của ông, dù là thủ trưởng cũ, vì tôi e ngại sau bao nhiêu năm viết những bài báo vô danh nay về già lại quay sang viết phê bình văn học thì chỉ làm "hỏng" phê bình chứ làm sao mà giúp phê bình mở mày mở mặt!