“Thao thức” tuổi 90
Cái chất phong lưu đất kinh kỳ khiến cô thiếu nữ Mỵ ngày xưa ấy, dù ở bản nhỏ, heo hút Tạ Chan vẫn say mê đọc sách báo của Tự Lực văn đoàn, hễ có dịp về Hà Nội là cô tìm đến "Salon văn học" của bạn gái Tuyết Chi ở phố Đỗ Hữu Vị (nay là phố Cửa Bắc) để đàm đạo, kết thân với những bậc tài danh thời tiền chiến.
Sống đến nay gần trọn một thế kỷ, âm thầm đọc sách, sáng tác như một thú vui tao nhã, thế rồi vào tuổi 90, cuốn "Thao thức" (NXB Lao Động, 12/2009) của cụ Minh Mỵ do Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam và gia đình tuyển chọn gồm thơ sáng tác, tạp văn, thơ dịch (tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc) ra mắt bạn đọc như một bông địa lan nở muộn vào cữ rét cuối đông, làm ngỡ ngàng công chúng và cả giới nghiên cứu - phê bình văn học…
Nặng lòng với Tây Bắc
Tôi hoàn toàn bất ngờ khi ngồi trò chuyện với tác giả trong buổi sáng đầu đông Hà Nội chớm lạnh. Một cụ bà phúc hậu, trên gương mặt rạn vết chân chim vẫn vương nét đài các, kiêu sa của người con gái Hà Nội, hiện rõ sự anh minh, mẫn tiệp. Những vần thơ tinh tế, trang văn điềm tĩnh, thâm trầm, ẩn chứa minh triết phương Đông trong cuốn "Thao thức" và phong thái lịch lãm, tri thức thông tuệ của người tiếp chuyện cứ ám ảnh, thôi thúc tôi phải viết gì đó về cụ bà Minh Mỵ. Càng ngạc nhiên khi cụ tiếp chuyện tôi bằng tiếng dân tộc Thái. Dân tộc của tôi.
Lần theo câu chuyện của cụ, tôi mường tượng đến vùng đất xa tít nơi Tây Bắc với bản Tạ Chan, một bản Thái nhỏ hiền hoà giữa núi rừng huyện Mai Sơn (Sơn La), gắn với cảnh trên bến, dưới thuyền, giao thương tấp nập, được gọi là Phố Bản hồi đầu thế kỷ XX. Thân sinh ra cụ là Phạm Văn Hội - người làng Mai Xá, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ (nay là huyện Thường Tín, Hà Nội), vốn là y tá trưởng ở nhà thương Chợ Bờ - Hoà Bình. Khi được một người bạn rủ lên Tạ Chan buôn bán lâm thổ sản, cụ Hội đã quyết định chuyển cả gia đình lên đó sinh sống. Thời đó, Tây Bắc vẫn được coi là nơi rừng thiêng, nước độc. Dựng cửa nhà chưa được bao lâu, công việc buôn bán bắt đầu vào guồng thì cụ Hội ngã bệnh rồi mất. Vì thế, cô bé Mỵ cùng anh trai và hai chị gái đã sống nhiều năm ở Tạ Chan, trong vòng tay nhân hậu và sự tảo tần của mẹ…
Ký ức se thắt trở về trong lòng cụ Mỵ. Trò chuyện với cụ thật lý thú và cũng làm tôi xao xuyến nhớ về Tây Bắc thân yêu của mình. Đó là những đêm ngắm trăng giữa rừng, rồi khi hoa ban nở trắng núi rừng Tây Bắc, cùng chúng bạn ném còn vui xuân, ăn mừng hội lúa mới, những đêm bên đống lửa bập bùng với điệu xoè mang hơi thở của núi rừng Tây Bắc.
Dường như nhắc đến Tây Bắc, trong lòng cụ Minh Mỵ lại trào dâng cảm xúc mãnh liệt. Tuổi thơ nhọc nhằn, thời thiếu nữ cô đơn, đắm chìm trong sách báo của Tự Lực văn đoàn giữa thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ đã gieo mầm văn chương trong tâm hồn cô, nhất là khi cô có dịp xuôi thuyền về Hà Nội. Rồi khi lấy chồng, lên Lai Châu sinh sống, lại là dịp để cô hiểu thêm về văn hoá Thái và văn hoá nhiều dân tộc ở vùng đất miền Tây Tổ quốc.
Sau này, vốn sống ấy đã ngấm vào cụ Minh Mỵ, trở thành nguồn mạch cảm hứng để cụ sáng tác. Chính vì vậy, trong tác phẩm của cụ, dù rất nhiều chủ đề nói về tình yêu quê hương, đất nước, các vùng đất, rồi trò chuyện với bạn thơ, lúc nào tôi cũng tìm thấy hình bóng Tây Bắc xa xôi: "Hoa ban nở trắng lưng đồi/ Đỉnh đèo mây lũ vần trôi lững lờ/ Hắc Giang sóng vỗ đôi bờ/ Làng xưa bản cũ bây giờ còn không?" - giọng cụ chợt bâng khuâng, khắc khoải với những câu thơ trong bài "Nhớ về bản cũ".
Vừa lần giở những trang giấy còn thơm mùi mực mới trong cuốn "Thao thức", cụ như phiêu linh trong khúc tâm tình mà người bạn thơ Phạm Văn Lữu gửi tặng: "Gửi lòng nước biếc nhắn xuôi/ Núi rừng Tây Bắc nhớ thời ấu thơ/ Đà Giang sóng vỗ đôi bờ/ Khúc thương, khúc nhớ, khúc chờ, khúc mong…". Tôi không lấy làm lạ khi cụ kể rằng, đã từng sắm một bộ váy áo "sửa cỏm", có sự kiện vui hay dịp Tết lại diện. Tiếc là sau này, chạy tản cư, bộ váy áo Thái bị mất. Áo dài của cụ từ hồi đó cũng như về sau đều đính "móc pém" (chiếc cúc bướm của áo cóm) ở cổ áo thay chiếc khuy thông thường, vừa là "điệu", cũng là cho đỡ đi nỗi nhớ xa Tây Bắc mà cụ vẫn coi là quê hương thứ hai.
"Cơm áo không đùa với khách thơ"
Nói về cuốn sách mới của mình, tác giả Minh Mỵ bảo: "Tập sách này, đơn giản chỉ là chút tình, là kỷ niệm gửi lại cho bạn bè, người thân, thế thôi!...". Dẫu không nói ra, nhưng qua tâm sự với những thành viên trong gia đình, tôi hiểu rằng, đây còn là món quà cụ dành tặng cho quê hương, khi mà thời gian tiến tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội đã cận kề.
Ít ai biết rằng, để ra đời được cuốn sách, cụ cùng con cháu đã phải lao tâm, khổ tứ rất nhiều. Bởi so với hai tập thơ đã in trước kia - "Chuyển mùa" (NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, năm 1995) và "Nhớ thu" (Hội Nhà văn Hà Nội, năm 2001) - chỉ là sáng tác về thơ thì tập "Thao thức" có những nét riêng mới. "Thao thức" được cụ coi là cuốn sách dối già nên tập hợp những sáng tác chủ yếu từ 2001, có lấy lại một số bài đã in và chưa in của những năm trước.
Chị Minh Thi - con gái tác giả cho biết: "Có những tác phẩm, cụ nhớ và tự tay viết rồi lãng quên. Các tác phẩm của bạn bè tặng cụ cất kỹ quá, phải lục tìm rất lâu mới gần đủ để đưa vào phần Phụ lục. Về mảng thơ dịch, may nhờ có mạng Internet, việc kiểm tra lại bản gốc, chú giải thơ dịch cho cụ cũng tiện và nhanh hơn. Để có hình ảnh bản Tạ Chan bây giờ, vợ chồng tôi đã phải lên tận nơi, tìm hiểu cuộc sống của dân bản, tìm người quen cũ của gia đình. Cứ như vậy, hơn 2 năm trời, cuốn "Thao thức" mới hoàn thành".
Tôi thực sự khâm phục khi cầm trong tay cuốn "Thao thức" với phần thơ sáng tác, tạp văn và dịch thơ tiếng Pháp, tiếng Hán phong phú, chứa đầy kiến thức, nét văn hoá đa diện. Trong đó, có nhiều chuyện lạ về "salon Tuyết Chi", về giai thoại sửa thơ Tản Đà và đặc biệt là mối thâm giao với những bậc tài danh như: Lan Khai, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Thanh Châu, Ngọc Giao, Hồ Dzếnh, Song Kim, Huy Cận, Xuân Diệu… qua những mẩu chuyện lý thú bây giờ mới được tác giả tiết lộ.
Rồi cụ kể chuyện về mối thân tình với nhiều bạn thơ, trong đó có nhà thơ - nhà kịch gia Phan Gia Liên. Khi ấy là mùa đông năm 2005, người con trai út vốn là Đại tá Công an, nhân dịp anh chuyển cả gia đình ra Hà Nội sinh sống và công tác, mời vợ chồng anh chị Phan Gia Liên đến nhà chơi. Đó là lần đầu chị Liên gặp cụ. Không hẹn mà gặp, hai tâm hồn thi sĩ đã quyện vào nhau, và họ trở thành đôi bạn vong niên. Từ đó, thỉnh thoảng chị Phan Gia Liên vẫn đến thăm cụ, đôi khi chỉ là mang đến những tác phẩm kịch, thơ mới hay đàm đạo về văn chương và làm thơ tặng nhau, những vần thơ đong đầy cảm xúc về nhân tình thế thái trên cuộc đời.
Đọc tập thơ "Nhớ thu", nhà thơ Phan Gia Liên đã viết lên những dòng chan chứa xúc cảm để kính tặng nữ nhà thơ Minh Mỵ: Chớm đông được đọc thơ bà/ Tưởng rằng thu đã đi xa, xa rồi/ Đọc thơ lòng thấy bồi hồi/ Nhớ thu, thu đã tràn đầy về đây…/ Tình đời ai đếm, ai đong/ Vơi đầy mấy khúc thấm trong thơ bà…? Trải qua bao nỗi gian truân/ Tâm hồn trong trẻo, nghĩa tình bao la/ Cám ơn Bà, cám ơn Bà/ Thơ Bà là cả bài ca con người!
Lặng trong giây lát, cụ lại say sưa kể, vào một ngày mùa thu năm 1985, tự nhiên, cụ lấy cây bút viết ra dòng suy nghĩ ấp ủ bấy lâu về miền quê Tây Bắc. Bài thơ viết dở - đã tạm gác sang một bên qua nhiều năm tần tảo nuôi các con khôn lớn - nay tứ thơ bỗng ào ra, lung linh câu chữ. Thơ làm để chơi chơi, ai dè được con cháu, bạn bè hưởng ứng. Thơ của cụ trong trẻo, không nặng về rèn giũa câu chữ. Mộng mỵ với tình thơ, dù là bất kỳ thời khắc nào trong ngày, cụ cũng có thể cầm lấy cây bút ghi lại, như sợ vuột mất viên ngọc quý.
Sau này, tham gia CLB Thăng Long (Hà Nội), CLB Thơ dịch Hà Nội, CLB Thơ Trung Tự (phường Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nội) và bầu bạn với không ít bạn thơ ở nhiều CLB Thơ trên cả nước, con người văn chương trong cụ như được sống lại, cảm xúc đong đầy. Tản mạn trong câu chuyện về văn chương, đôi lúc, cụ xen vào chuyện gia đình.
Cụ bà Minh Mỵ hào hứng kể về chồng - cụ Nguyễn Văn Hợp, thời trẻ làm Thư ký Toà sứ Lai Châu, sau về Hà Nội, theo cách mạng, lên chiến khu làm tại Sở Thông tin Liên khu Việt Bắc, hòa bình lập lại thì công tác ở báo Ảnh Việt Nam, từng dịch cuốn "Xa Mạc Tư Khoa" (cùng với nhóm đồng nghiệp ở báo Ảnh Việt Nam)…
Giờ cụ Minh Mỵ đã có cả đại gia đình với 5 cặp vợ chồng các con, 9 cháu và thêm 5 cháu dâu, rể cùng 8 chắt. Dẫu thế, hồi ức năm xưa như ngọn lửa không bao giờ tắt trong cuộc trò chuyện giữa tôi và cụ. Sách, báo như cơm ăn, nước uống hàng ngày. Hồi đó, ngoài những tờ báo nhà đặt mua thường gối đầu giường như báo Đông Tây, Phong hoá, Ngày nay, Phụ nữ tân văn, cụ Minh Mỵ còn mượn của hàng xóm báo Nam Phong, mượn Phìa (xã trưởng) Hà Thành ngọ báo, Trung Bắc tân văn..., còn sách của Tự Lực văn đoàn được ưu tiên số một, cụ đọc không sót cuốn nào.
Rồi chuyện được học giả Từ Ngọc Nguyễn Lân giới thiệu vào lớp "thính bàng" (dự thính) bậc Thành chung do thầy Bùi Kỷ dạy tiếng Hán vẫn còn như mới hôm qua. Cụ bảo, trước kia cũng được mẹ dạy chữ Hán nhưng chưa thấm lắm, sau này mới thấy sự học cần phải ngày càng tiến bộ, học thầy, học cả bạn nên mới có được "vốn liếng" như hôm nay.
Nâng niu cuốn "Thao thức", tác giả Minh Mỵ trải lòng: "Tôi thuở nhỏ không được học nhiều, con cháu hỏi sao tôi dịch được cả thơ Pháp, thơ chữ Hán? Thứ nhất, tuy không được đến trường nhưng tôi đã cần mẫn tự học cả đời; thứ hai, tôi cho rằng để dịch thơ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt thì vốn tiếng Việt là quan trọng nhất; thứ ba, các bạn thơ ở CLB Thơ dịch (do các ông Phạm Nguyên Phẩm, Hoàng Xuân Độ, Đỗ Quang Liên phụ trách) đã giúp tôi bổ khuyết vốn ngoại ngữ hạn hẹp, giúp tôi hiểu thêm sự tinh túy trong bản thơ gốc".
Tôi hỏi cụ, sao phải chôn giấu tình yêu văn chương suốt mấy chục năm mới cầm bút trở lại? Cụ ngậm ngùi: "Số phận cả thôi! "Cơm áo không đùa với khách thơ". Ngày ấy, tôi còn phải lo cho mẹ chồng và 5 con. Chồng đi công tác cho kháng chiến, sau này lại làm báo, mấy khi ở nhà. Một tay tôi vừa làm công tác phụ nữ ở chiến khu, rồi lo chạy chợ, làm hàng xáo, làm bánh chưng bán, chăn nuôi, tăng gia sản xuất… Dành được thời gian thì sưu tầm sách quý cả tiếng Việt, tiếng Pháp bổ sung vào tủ sách gia đình, chứ cũng yêu thơ lắm nhưng bị cái sự "cơm áo gạo tiền" nó cuốn đi"…
Năm 1977, cái tuổi lẽ ra được nghỉ ngơi an nhàn tuổi già, vui vầy cùng con cháu thì chợt khao khát cầm bút trỗi dậy nơi người phụ nữ ở buổi xế chiều. Tôi chợt nhớ đến câu ai đó đã từng nói "không bao giờ là quá muộn", với cụ, có lẽ điều ấy càng đúng. Say mê sáng tác, say mê dịch thuật, say mê với ký ức cuộc đời, cụ đã dệt nên những tác phẩm quý giá cho chính mình và cho đời. Điều ấy thật đáng trân trọng.
90 tuổi, xuất bản 2 tập thơ, 1 cuốn sách đầy ắp vốn sống, lung linh câu chữ, nhưng khát vọng trong cụ vẫn còn nguyên vẹn như hồi thiếu nữ ở bản Tạ Chan năm nào. Để có sức khoẻ và cũng là để có thêm kiến thức, cụ vẫn sáng tập thể dục, ngày đọc sách, báo, xem tivi. Mỗi tháng một lần, cụ lại đến CLB Thơ Trung Tự để sinh hoạt với các hội viên.
Cụ bảo: "Dạo này sáng tác ít rồi, nhưng nếu không sáng tác được thơ nữa, tôi vẫn sẽ sưu tầm thơ hay các mẩu chuyện lý thú mang đến góp với CLB và tôi vẫn sẽ dịch thơ, vì dịch thơ thì cả kho kiến thức bể sở mênh mông nhường ấy, chỉ sợ mình không có sức dịch thôi". Dường như, với cụ bà Minh Mỵ, thơ văn đã thành hơi thở cuộc sống và trái tim còn đập, còn sáng tác…