Thư pháp, nghệ thuật giao cảm tâm linh
Thư họa, nói nôm na là “tranh chữ”, chữ thường là thơ “Đường thi tứ tuyệt” để vịnh tranh. Từ xưa đến nay, chữ chỉ là chữ Hán Nôm, chỉ là màu đen đậm nhạt của mực Tàu, mà người ta quen gọi là chữ nho. Để tạo thành tranh, các nhà thư pháp phải vận dụng thích hợp, thể loại của chữ (mẫu kiểu chữ).
Với những bức hoành phi, đại tự, thường thấy ở gian chính của đền, chùa, nhà thờ tổ hoặc treo ở chỗ trang trọng của phòng khách - đại sảnh. Chữ chỉ viết “Chân” (còn gọi là khải, là chính thư), khổ chữ to, nét đậm, theo đúng niêm luật của Hán tự: các trục đăng - đối - tung - hoành cân xứng, gọn gàng, vuông vức; biến thiên đều đặn, rành rọt, thể hiện sự trang nghiêm, trân trọng.
Còn thư họa để thưởng thức theo sở thích, tâm linh các nhà thư pháp thường vận dụng kết hợp kiểu hành thư (viết thường) với một phần của thảo thư (viết phóng, viết tháu) gọi là Hành đá Thảo.
Hình thức của thư họa là thế, và đó là nghệ thuật thể hiện của thư pháp. Lịch sử thư pháp đã từng tôn vinh những tay bút tài hoa, triều đình đã từng ban tước vị “quan nghè bút pháp” cho các nhà thư pháp lão luyện. Ở nước ta thuở xưa Cao Bá Quát được liệt theo danh thứ hạng đó.
Dăm năm trở lại đây, các nhà thư pháp - không chỉ là cụ đồ nho, các thầy lang, mà còn có nhiều nhà giáo, nhiều sinh viên đại học và họa sĩ trẻ, đã tìm đến nhau lập thành câu lạc bộ (CLB).
Ở Hà Nội có CLB Thư pháp Thăng Long do cụ Lại Cao Nguyện làm Chủ tịch với khoảng 30 hội viên. CLB đã hoạt động có hiệu quả, mở đến 4 lớp thư pháp cho sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội và thành công 2 khoá đào tạo cả thư lẫn họa cho trường Đại học Phương Đông.
Ở TP Hồ Chí Minh CLB Thư pháp có đến 80 hội viên, đã mở ra một dạng Thư họa Việt hoá, là dùng chữ Quốc ngữ viết tháu nhái Hán Nôm trên tranh và lịch tờ, đã có được sự chú ý của nhiều người.
Trong số các nhà thư pháp hiện nay được nhiều người biết đến ở Hà Nội là ngọn bút phượng múa rồng bay của cụ lang Nguyễn Văn Bách, là Hồng Thanh thả hồn vào cả thư và họa, là họa sĩ trẻ Lê Quốc Việt đã tổ chức triển lãm thư pháp của mình tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, được đông đảo người xem, trong đó khá nhiều du khách nước ngoài tán dương, hâm mộ.
Song bậc thầy trong hàng thư pháp là “Đại danh thư pháp lão gia - Thanh Hoằng Khê - Lê Xuân Hoà”. Sở dĩ cụ lấy bút danh như vậy để ghi nhớ quê hương sinh trưởng ở xã Phú Khê - Hoằng Hoá - Thanh Hoá. Đến mùa xuân Đinh Hợi (2007) này cụ 93 tuổi. Thân phụ là một nhà nho uyên thâm, đã dạy Hán văn cho cụ Hoà từ nhỏ, thông thuộc Tứ thư, Ngũ kinh, Luận ngữ...
Ở tuổi 20, anh Hoà là người làm ruộng khoẻ, là thầy đồ trẻ tài giỏi, là người viết Hán Nôm tuyệt mỹ. Cụ Hoà đã từng tâm sự: “Con người cốt ở cái Tâm”, khi là anh nông dân, là thầy đồ trẻ, là cán bộ kháng chiến chống Pháp, là đảng viên Đảng CSVN (kết nạp 1948) cũng như hiện nay là cộng tác viên chủ chốt của Viện Hán Nôm, là cây bút thư pháp trụ cột trong các cuộc triển lãm thư họa ở trong Nam, ngoài Bắc, cụ đều lấy chữ Tâm làm đầu.
Bởi lẽ, như cụ tâm sự: “cái Tâm mà sáng, mà Thiện thì giúp cho con người ta có được cái Chí, cái Khí, cái Đức, cái Tài, khiến con người ta tránh được cái “ác” để làm được những điều có ích cho Người, cho Đời, tạo cho mình nếp sống thanh bạch và cao thượng.
Quả vậy, căn gác hai nhà lắp ghép khu chung cư Nguyễn Công Trứ cụ ở, chẳng thấy vật dụng, tiện nghi gì sang trọng, đắt tiền, mặc dầu mỗi chữ của cụ là dăm chục nghìn đồng, mỗi bức thư họa của cụ triển lãm được vài trăm nghìn. Những tiền triệu thu được phần lớn cụ dùng cho việc từ thiện hoặc gửi tặng hết cho đồng bào vùng bị thiên tai. Trò chuyện với cụ về thư pháp, thư họa, quanh quẩn vẫn lại là cái Tâm, cái Thiện thể hiện tâm linh.
Trong câu chuyện, cụ Hoà vui mừng vì mấy năm gần đây người “cầu” chữ ngày càng nhiều, cái chữ người ta cầu nhiều, cụ được viết nhiều lại là những chữ Tâm, Đức, Phúc, Nhẫn, An khang, Thái Hoà, Thọ, Năng, Vượng... Ấy là những chữ thuộc tâm linh ý nguyện của con người hướng Thiện.
Đáng nói lại là những nam thanh, nữ tú đến cầu chữ chúc thọ, chúc phúc, tỏ lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, tổ tiên lại có những đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã đến thăm cụ, xem và nhận chữ cụ tặng.
Tuy vậy cụ Hoà không hài lòng và băn khoăn không ít về con người ngày nay có những hành vi, động thái tha hoá về đạo đức, về kỷ cương phép nước; chống trả những người thi hành công vụ, khiến cả trăm cán bộ, chiến sĩ Công an hy sinh và thương tật...
Đột nhiên tôi hỏi - khi vừa nghe cụ nói vậy:
- Để giải toả tình trạng đó và động viên cán bộ, chiến sĩ Công an thì ta dùng chữ gì vừa ngắn gọn vừa hàm xúc ý nghĩa sâu sắc? Cụ Hoà hỏi lại tôi:
- Xuân Đinh Hợi sắp đến. Ông bảo chữ gì là hợp và đẹp? Nhưng mà... rồi tặng ai, treo ở đâu nhỉ?
- Gửi tặng Báo CAND và độc giả của Báo. Tôi đáp. Cụ tỏ vẻ hài lòng.
Thế rồi cả cụ và tôi cùng nghĩ. Không ngờ rất nhanh mà lại tâm đầu ý hợp đến thế. Cụ hăm hở đến bàn viết tiêu đề là chữ Nhẫn, chủ đề là chữ “Quốc Thái Dân An”.
Nhâm nhi chén trà điếu thuốc, cụ và tôi cùng tâm đắc bức thư họa vừa viết chưa ráo mực. Rằng cái chữ Nhẫn có nhiều nghĩa - với cán bộ, chiến sĩ Công an là nhẫn nại kiên trì phá án, vì nước quên thân vì dân phục vụ để “Quốc Thái Dân An”. Với dân thì kiên nhẫn trước những khó khăn, những vấn đề bức xúc trong xã hội, cùng đồng tâm hiệp lực khắc phục.
Và với những người nào đó chưa hoàn thiện tâm tính thì bình tâm nhẫn chí phấn đấu hoàn lương, cũng là góp phần làm cho Quốc Thái Dân An vậy