Tình thương yêu chiến sĩ của “người mẹ hiền” Thùy Trâm
1. Cuốn nhật ký chị Thùy (Thùy – tiếng Thùy Trâm tự xưng với bạn bè, người thân) bắt đầu từ ngày 8/4/1968 cho đến ngày 20/6/1970, hai ngày trước khi chị hy sinh. Ngay từ những dòng ghi đầu tiên của nhật ký, chị đã nhắc tới một chiến sĩ được chị mổ ruột thừa trong điều kiện vô cùng thiếu thốn thuốc men của bệnh xá: “Mổ một ca ruột thừa trong điều kiện thiếu thốn. Thuốc giảm đau chỉ vài ống Novocaine nhưng người thương binh trẻ không hề kêu la một tiếng. Anh còn cười động viên mình – nhìn nụ cười gượng trên đôi môi khô vì mệt nhọc, mình thương anh vô cùng... Nỗi băn khoăn của một người thầy thuốc + nỗi thương xót mến phục người thương binh ấy làm mình không thể yên bụng. Vuốt nhẹ mái tóc anh, mình muốn nói với anh rằng: Với những người như anh mà tôi không cứu chữa được thì đó là điều đau xót khó mà phai đi trong cuộc đời phục vụ của một người thầy thuốc”.
Bác sĩ Thùy Trâm lúc nào cũng lo lắng sau mỗi lần khám chữa bệnh, mỗi lần mổ vết thương cho thương binh, bệnh binh. Chỉ hai ngày sau khi mổ ruột thừa cho người chiến sĩ trẻ có tên San đó (ngày 10/4/1968), chị Thùy đã ghi nỗi niềm của mình: “...Suốt một đêm lo lắng vì ca mổ của San, chiều nay lòng mình như vui sướng xiết bao khi thấy San ngồi dậy, nét mặt anh còn in nỗi đau đớn, mệt nhọc nhưng nụ cười gượng nở trên môi. Bàn tay anh khẽ nắm tay mình, mến thương tin tưởng. Ơi người thương binh trẻ tuổi dũng cảm kia ơi, tôi thương anh bằng một tình thương rộng rãi nhưng rất sâu xa: tình thương của một người thầy thuốc với bệnh nhân, tình thương của một người chị đối với đứa em đau ốm, và tình thương ấy đặc biệt hơn đối với mọi người vì cộng thêm cả lòng mến phục...”.
Tình thương yêu chiến sĩ của Thùy Trâm còn thể hiện qua một “câu chuyện vớ vẩn” mà chị đã ghi lại vào đêm 14/5/1968. Vẫn là với chiến sĩ San ấy – người con trai độc nhất của một người mẹ cứ ở vậy nuôi con còn nhỏ từ ngày người chồng hi sinh khi còn trẻ: “...Có lần nói chuyện với San, hai chị em tranh cãi nhau về chuyện nếu một người phải chết thì ai nên chết. Mình nhường cho San sống bởi vì đời San chưa hề được hưởng sung sướng và bởi vì San là đứa con duy nhất của một bà mẹ góa đã ở vậy nuôi con từ năm hai mốt tuổi đến giờ. Vậy mà San cứ khăng khăng rằng mình phải sống, phải trở về với mẹ, với các em, với miền Bắc thân yêu đang trông đợi mình. Rõ vớ vẩn, chuyện không đâu vào đâu cả mà sao hai chị em đều cảm thấy thương nhau hơn...”.
![]() |
| Thùy Trâm (ngoài cùng bên phải) cùng các đồng đội tại Bệnh viện Đức Phổ. |
2. Đoạn nhật ký ghi ngày 9/1/1969 sau đây của Thùy Trâm về một người chiến sĩ trẻ đã nhiều lần bị thương trong chiến đấu. Nó khẳng định hùng hồn một lần nữa tình thương yêu người chiến sĩ giải phóng của người bác sĩ như mẹ hiền của chị. Thùy Trâm đã dành mấy trang giấy để ghi lại câu chuyện đầy bi hùng của người chiến sĩ có tên là Bốn:
“...Hai mốt tuổi, bảy lần bị thương trong chiến đấu. Người trung đội trưởng trinh sát trẻ tuổi ấy đã để lại trong mình những cảm nghĩ không bao giờ có thể quên.
Mình gặp Bốn lần đầu tiên khi Bốn vào nằm bệnh viện với một vết thương nhỏ nơi chân. Mấy hôm sau, chân chưa lành đã ra viện và hơn một tháng sau mình lại đón Bốn vào viện. Vết thương xuyên qua khớp vai mất nhiều máu nên Bốn xanh xao, mệt lả. Nhưng sau khi mổ xong, vừa mới lành, nụ cười tinh nghịch lại nở trên đôi môi nhợt nhạt của Bốn. Vết thương đau đớn nhiều nhưng Bốn không rên la mà chỉ lo một điều: có còn chiến đấu được nữa hay không?
Và mới hôm nào đây gặp lại Bốn trên đường hành quân, vai mang khẩu súng AK, nhìn thấy mình từ xa nó mừng rỡ reo lên: “Chào bác sĩ! Báo cáo bác sĩ, tay em bình thường rồi!”, và nó khoa tay lên khoe với mình khớp vai đã hoạt động bình thường. Mình cười vui khi nhìn nước da khỏe mạnh hồng hào và nụ cười tinh nghịch của chàng bộ đội giải phóng quân ấy.
Hôm nay Bốn lại vào viện, da xanh mướt. Em nằm im lìm không rên la. Một chân đã bị mìn tiện cụt, máu thấm ướt hết quần áo. Bằng tinh thần trách nhiệm cộng với tình thương, mình đã cùng các đồng chí hết sức cứu chữa. Cắt cụt chân xong, Bốn cười và nói: “Bây giờ chắc sống 80% rồi đấy”.
Riêng mình vẫn lo lắng vì Bốn lại mất máu quá nhiều. Mạch đập vẫn rất nhanh: 140-150 nhưng cũng nhiều hy vọng.
Cuối cùng, Bốn đã không vượt qua nổi: Máu ra nhiều quá nên em không đủ sức. Bốn ơi, máu em đã thấm đỏ trên mảnh đất quê hương, máu em đã chảy dài trên đường em đi chiến đấu. Tim em đã ngừng đập cho trái tim Tổ quốc muôn đời đập mãi”.
3. Đọc tiếp nhật ký đến ngày 19/3/1969, người bác sĩ đầy tình thương và trách nhiệm Thùy Trâm đã ghi lại một thông tin cụ thể nữa về một người chiến sĩ được chị chữa trị lành bệnh rồi về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Người chiến sĩ trẻ này đã tham gia một trận đánh thắng lợi vào một chi khu quân sự của quân thù.
“...Đánh vào quận Đức Phổ đêm qua. Cả khu quận đã cháy tơi bời trong ánh lửa căm thù của bộ đội ta. Trong những chiến sĩ anh hùng ấy có Lực – một thương binh vừa phục hồi sức chiến đấu. Lực đã ngã xuống trong trận tham chiến đầu tiên sau những ngày dưỡng bệnh.
Lực ơi, em chết rồi ư? Sao lời hát của em còn vang mãi bên tai chị và nét chữ của em cũng còn tươi màu mực trong những lá thư em viết thăm chị. Em cũng như Bốn, như Khiêm, như những người anh hùng đã ngã xuống vì ngày mai thắng lợi sẽ còn sống mãi trong lòng chị và tất cả nhân dân ta...”.
Trong nhật ký, Thùy Trâm không bỏ sót một tên tuổi nào mà chị đã từng tiếp xúc, từng trao đổi tâm tình, từng chứng kiến những hành động anh hùng trong chiến đấu cũng như những đau thương, chết chóc, mất mát trong cuộc chiến tranh này. Từ những chiến sĩ quân giải phóng, những cán bộ nằm vùng bám sát quê hương đến những giáo viên, cô y tá, chị hộ lý, các em thiếu nhi, các bà mẹ..., tất cả những ai từng được bác sĩ Thùy Trâm cứu chữa, cùng chị làm việc, cùng tiếp xúc với chị trong đời sống hằng ngày thời chiến ác liệt... đều được chị ghi lại. “...Kể làm sao cho hết những anh hùng vô danh mà mảnh đất miền
Chị cũng từng ghi về người giáo viên Khiêm ba lần bị tù đày, bị đánh đập trong một trận càn của giặc, anh đã dũng cảm đánh trả quyết liệt rồi bị chúng đuổi theo băm vằm đến nát người. Thùy Trâm không những kể lại từng chi tiết bi hùng đó trong nhật ký ngày 14/8/1968, mà còn viết tỉ mỉ câu chuyện đó trong những lá thư gửi cho các bạn học thân ở miền Bắc là Võ Thị Thái, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh và Dương Đức Nhiệm...
Để kết thúc bài này, tôi xin trích dẫn một đoạn trong bức thư của Thùy Trâm gửi cho em gái Phương Trâm nhằm xóa tan nỗi lo lắng của người em khi chị quyết định lên đường phục vụ tiền tuyến lớn: “...Không ở đâu giá trị đích thực của con người được thấy rõ như tại chiến trường miền Nam lúc này. Nơi đó, trong gian lao chị sẽ tìm thấy hạnh phúc chân chính. Hạnh phúc đổi bằng nhiều hy sinh gian khổ, em có hiểu không? Đừng lo là tai ương sẽ đến. Cứ tin rằng nhất định chúng ta sẽ thắng”.
Từ tư tưởng, ý nghĩ đến lời nói, việc làm của người bác sĩ Thùy Trâm thật như cuộc đời, vì thế mà sống mãi…
